Tỳ kheo Ni Giới.
Nói về đại thể của Tỳ kheo ni giới. Đại thể ấy có 2 phần: phần 1 là giới luật, phần 2 là oai nghi. Phần 1 là những giới điều cấm tội lỗi thật sự, phần 2 là những giới điều cấm cử động bất xứng. Tức như loại khí có thể nói là giới luật cả, loại học pháp có thể nói là oai nghi cả. Còn các loại khác thì có giới là giới luật, có giới là oai nghi, có giới là cả hai. Tất cả giới luật và oai nghi như vậy tạo thành một bậc Chúng trung tôn.
Giới điều nhiều đến mấy đi nữa mà, như Tứ phần luật nói, hễ có thiểu dục tri túc (kèm theo là tàm quí) thì giữ được hết cả, kể cả khai giá (linh động và hạn chế) của mỗi giới điều cũng thấy ra và giữ trọn.
Tỳ kheo Ni Giới
Ai cũng có cái hảo tâm xuất gia ban đầu. Ai đứng trước Phật cũng muốn mình xứng đáng với Ngài. Nhưng chỉ có giới luật mới làm mình xứng đáng với Phật và không phụ hảo tâm của mình.
Tỳ kheo Ni Giới
Mục lục
Ghi Sau Khi Duyệt Tỳ kheo Ni Giới
Tựa
Phần Đầu Tỳ kheo Ni Giới
1/ Tám Giới Khí
2/ Mười Bảy Giới Tăng tàn
3/ Ba mươi Giới Xả đọa
4/ Một Trăn Bảy Tám Giới Đọa
5/ Tám Giới Hối Quá *
6/ Một Trăm Giới Học
7/ Bảy Pháp Diệt tránh
8/ Lời Kết Thúc
9/ Phần Cuối Tỳ kheo Ni Giới
Ghi Sau Khi Duyệt Tỳ kheo Ni Giới
Ghi Sau Khi Duyệt Tỳ kheo Ni Giới
Ổn thỏa nhất là những gì cần làm cho Tỳ kheo giới và Tỳ kheo ni giới thì nên làm chung. Nhưng làm cho Tỳ kheo giới rồi tôi mới phát nguyện làm cho Tỳ kheo ni giới. Do đó, Tỳ kheo ni giới không có một ít điều tôi đã làm cho Tỳ kheo giới. Ngay lời ghi này cũng vậy. Những gì cần ghi, tôi đã ghi bên Tỳ kheo giới. Luật không ngăn cản Tỳ kheo coi Tỳ kheo ni giới hay ngăn cản Tỳ kheo ni coi Tỳ kheo giới. Vậy những gì bên Tỳ kheo giới, chư vị Tỳ kheo ni có thể thẩm cứu.
Dầu vậy, ở đây tôi muốn ghi về sự ăn thịt cá mà Tỳ kheo ni giới không dịch lược đi được. Mở rộng vấn đề một chút là nói về sự ăn chay ăn mặn.
Nguyên thỉ Phật giáo mà cái này mới chắc là nguyên thỉ thì tùy thí tùy thực (cho gì ăn nấy). Nếu tôi nhớ không lầm, thì trước thời Phật, các triết gia Upanisad đã ăn chay. Và ăn một cách nghiêm khắc, cái ăn đó có gây phiền phức. Cái ăn đó là một cực đoan. Rồi khi chống lại Phật, muốn lập Phật giáo riêng, Đề Bà Đạt Đa đưa ra 5 sự, trong đó điều thứ 5 là suốt đời không ăn thịt cá máu mỡ bơ sữa ở (Bà sa 116, Phật học đại từ điển trang 533 dẫn). Thế đó lại càng là cực đoan. Bây giờ ta giả thiết bên ăn chay đòi cho được đồ chay, bên ăn mặn đòi cho được đồ mặn, thì thế chính là cực đoan, gây bao phiền phức cho người cho.
Phật không như vậy. Phật giáo thì tăng ni đến gần giờ ăn mới đi khất thực. Khất thực thì ngay bữa ăn của người cho, họ bớt ra mà cúng dường. Bữa ăn của họ có gì, họ cũng cúng dường cái đó. Khất thực không đòi cho được đồ chay hay đồ mặn. Do vậy mà trong luật mới có giới điều nói về sự ăn cá thịt.
Đại thừa thì khác. Hãy gác vấn đề đại thừa có phải cũng là Phật giáo nguyên thỉ không, chỉ nói đại thừa cấm tuyệt sự ăn mọi thứ thịt, với ý thức ăn thịt là phản Phật tánh, là phi từ bi. Và sự cấm ăn thịt này thực sự tuyệt đối, cấm như sắc lịnh là bởi Lương Vũ Đế. Ngày nay nói Phật giáo là nói ăn chay. Ăn có thịt cá trở thành lạ lùng, khó nghe và khó coi.
Ghi như trên đây là để giải thích sự ăn có cá thịt trong Luật, cho thấy Phật tử phải ăn chay là vì sao.
Tựa
Tựa
Sau khi dịch Tỳ kheo giới rồi, để cầu siêu nhân kỵ mẹ tôi, tôi phát ra cái ý dịch luôn Tỳ kheo ni giới và Thức xoa ma na ni giới. Trước đây tôi đã dịch Sa di giới (Sa di luật nghi yếu lược) và Sa di ni giới (Sa di ni luật nghi yếu lược). Bồ tát giới thì đã được dịch lại, và lược giải khá kỷ năm 2531 (1987). Như vậy là tất cả giới luật của 5 chúng xuất gia đã dịch xong.
Tỳ kheo ni giới, khi tôi dịch, chỉ tìm thấy 3 bản. Bản 1 mang số 1481 của Đại tạng kinh bản Đại chính, do ngài Hoài Tố biên tập. Bản 2 của ngài Nguyên Chiếu, nằm trong Tục tạng kinh bản chữ Vạn, tập 64 các trang 1 12. Bản 3 là giới kinh thường tụng nếu tụng Hoa văn, do Phật giáo Bắc khắc và ấn hành. Cả 3 bản, không có bản nào được như Tứ phần luật hàm chú giới bản của Tỳ kheo giới, nên tôi chọn bản thường tụng làm chính văn.
Tài liệu tham khảo thì ngoài phần chính là Tứ phần luật (các cuốn 22 30), còn có những tài liệu sau đây. Tứ phần luật danh nghĩa tiêu thích (gọi tắt là Danh nghĩa), bộ này đích xác là tự điển và từ điển của Tứ phần luật, nằm trong Vạn 70/201 501. Trùng trị, phần Tỳ kheo ni giới (Vạn 63/292 307). Tỳ kheo giới, bản dịch của tôi. Một bản dịch Tỳ kheo ni giới không thấy tư tên người dịch.
Tỳ kheo ni giới không có cái phước được chính ngài Đạo Tuyên làm việc cho, như cuốn Tứ phần luật hàm chú giới bản.
Trong cách dịch của tôi nên nói về tên của các giới điều. Bởi thấy đa số tên ấy tóm tắt và nêu lên ý chính, nên tôi dịch và để trước các giới điều. Thế nhưng đến loại 6 và loại 7, tác dụng ấy không có bao nhiêu nên tôi không dịch nữa.
Nay nên nói nội dung của Tỳ kheo ni giới, bằng cách đối quán sơ lược với nhau giữa 5 bản Tỳ kheo ni giới của 5 bộ luật. Tỳ kheo ni giới có 7 loại. Trong đó, loại một là khí, thì 5 bộ luật đồng nhau; loại hai là Tăng tàn, thì Tăng kỳ có 19, Ngũ phần, Thập tụng và Tứ phần đều có 17, Hữu bộ có 20; loại ba là Xả đọa, thì Tăng kỳ, Ngũ phần, Thập tụng và Tứ phần đều có 30, Hữu bộ có 33; loại bốn là Đọa, thì Tăng kỳ có 141, Ngũ phần có 210, Thập tụng có 178, Tứ phần có 178, Hữu bộ có 180; loại năm là Hối quá, thì Tăng kỳ, Ngũ phần, Thập tụng và Tứ phần đều có 8, Hữu bộ có 11; loại sáu là Học pháp, thì Tăng kỳ có 65, Ngũ phần và Tứ phần đều có 100, Thập tụng có 107, Hữu bộ có 42; loại bảy là Diệt tránh, thì 4 bộ đều có 7, trừ Ngũ phần không có.
Bây giờ nói về đại thể của Tỳ kheo ni giới. Đại thể ấy có 2 phần: phần 1 là giới luật, phần 2 là oai nghi. Phần 1 là những giới điều cấm tội lỗi thật sự, phần 2 là những giới điều cấm cử động bất xứng. Tức như loại khí có thể nói là giới luật cả, loại học pháp có thể nói là oai nghi cả. Còn các loại khác thì có giới là giới luật, có giới là oai nghi, có giới là cả hai. Tất cả giới luật và oai nghi như vậy tạo thành một bậc Chúng trung tôn.
Đến đây hãy nêu lên mấy điều. Một, ngôn ngữ của giới này ai nghe thì đừng kinh quái, phát ngượng, mà phải nghĩ đến ơn Phật, đã ly ái nhiễm, đã đắc thanh tịnh, nhưng vì chúng ta nên kiết giới với những lời chữ không phải mỹ từ ở (Thiện kiến, Vạn 64/1 dẫn). Hai, về trường hợp có ra giới pháp thì đời Phật, tập thể Tỳ kheo ni cũng không ít, vậy mà chỉ có 6 bà gọi là lục quần Tỳ kheo ni, và năm ba vị nữa, có những cử động bất xứng, chứng tỏ tập thể Tỳ kheo ni ấy xứng đáng không ít. Ba, số lượng của giới điều thật ra cũng không nhiều lắm, dò kỹ sẽ thấy con số 348 có thể qui nạp còn quá nửa mà thôi. Bốn, giới điều nhiều đến mấy đi nữa mà, như Tứ phần luật nói, hễ có thiểu dục tri túc (kèm theo là tàm quí) thì giữ được hết cả, kể cả khai giá (linh động và hạn chế) của mỗi giới điều cũng thấy ra và giữ trọn.
Ai cũng có cái hảo tâm xuất gia ban đầu. Ai đứng trước Phật cũng muốn mình xứng đáng với Ngài. Nhưng chỉ có giới luật mới làm mình xứng đáng với Phật và không phụ hảo tâm của mình.
Phần Đầu Tỳ kheo Ni Giới
Phần Đầu Tỳ kheo Ni Giới
Cúi đầu kính lạy
chư Phật, Phật pháp
và Tỳ kheo tăng.
Nay tụng Giới kinh (1)
là để làm cho
Phật pháp thường còn.
Giới như biển cả
không có bờ mé,
lại như ngọc báu
cầu hoài không chán.
Muốn giữ tài sản
của các Thánh giả (2),
đại chúng họp lại
nghe tôi tụng Giới.
Muốn trừ bốn thứ
gọi là tội khí,
muốn diệt mười ba
tội lỗi Tăng tàn,
muốn ngăn ba mươi
tội lỗi Xả đọa (3),
đại chúng họp lại
nghe tôi tụng Giới.
Đức Tỳ Bà Thi
cùng đức Thi Khí
đức Tỳ Xá Phù
đức Câu Lưu Tôn
đức Câu Na Hàm
cùng đức Ca Diếp
và đức Thích Ca,
chư Phật như vậy
đã thuyết Giới kinh (4),
nay tôi tụng lại
Giới kinh như vậy,
đại chúng cùng nghe.
Ví như có người
chân đã thương tổn
thì không thể nào
tự đi đến đâu,
người nào phá giới
thì cũng như vậy
không thể sinh trong
chư thiên nhân loại.
Muốn sinh chư thiên
hay sinh nhân loại,
thì phải giữ lấy
đôi chân giới pháp,
đừng để có điều
vi phạm thương tổn.
Như người đánh xe
đi vào đường hiểm
thì lo xe ấy
rơi chốt gãy trục,
người mà phá giới
thì cũng như vậy,
đối diện cái chết
lòng đầy lo sợ.
Như người soi gương
thấy đẹp thì thích
thấy xấu thì rầu,
tụng giới cũng vậy
giới toàn thì mừng
giới hỏng thì lo.
Hai quân đánh nhau
ai gan thì tiến
ai khiếp thì thoái,
tụng giới cũng vậy
trong sạch: yên tâm
dơ bẩn: lo sợ.
Trong cả mọi người
vua là hơn hết,
trong các dòng nước
biển là hơn hết,
trong các sao đêm
trăng là hơn hết,
trong các vị thánh
Phật là hơn hết,
trong các giới luật (5)
Giới kinh hơn hết,
nên đức Thế Tôn
đã qui định rằng
cứ mỗi nửa tháng
phải tụng một lần.
Tăng tập hợp chưa? Đáp: tăng đã tập hợp.
Tăng hòa hợp không? Đáp: tăng hòa hợp.
Người chưa thọ đại giới đã ra chưa? Nếu có thì bảo ra và đáp: người chưa thọ đại giới đã ra; nếu không thì đáp: trong đây không có người chưa thọ đại giới.
Các vị Tỳ kheo ni không đến đây có nói dữ dục và thanh tịnh (6) không? Nếu có thì đáp có và thưa đúng cách, nếu không thì đáp trong đây không có người nói dữ dục và thanh tịnh.
Hôm nay tăng hòa hợp để làm gì? Đáp: để Yết ma tụng giới.
Đại tỷ tăng nghe cho, hôm nay là ngày 15, ngày tăng Bố tát tụng giới, nếu tăng thấy đến lúc (7), tăng chấp thuận, thì hòa hợp Bố tát tụng giới. Xin tác bạch như vậy. Tác bạch thành không? Đáp: thành.
Tỷ kheo ni giới
Bạch chư đại tỷ, nay tôi sắp tụng Ba la đề mộc xoa. Chư vị Tỳ kheo ni cùng tập hợp một chỗ. Chư vị hãy lắng, và nhớ nghĩ cho khéo. Nếu tự biết có phạm giới thì phải tự sám hối, không phạm giới thì hãy im lặng. Vì im lặng mà biết chư đại tỷ thanh tịnh. Nếu có ai hỏi thì cũng trả lời như vậy. Thế nên vị Tỳ kheo ni ở trong đại chúng được hỏi đến lần thứ 3 và nhớ nghĩ mình có tội mà không phát lộ, thì bị tội cố ý nói dối. Mà nói dối thì Phật đã dạy là sự cản trở thánh đạo (8). Nếu vị Tỳ kheo ni nhớ nghĩ mình có tội và muốn được thanh tịnh thì phải sám hối. Sám hối thì yên vui.
Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói lời nói đầu của Giới kinh. Nay xin hỏi chư đại tỷ, trong lời nói đầu ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại tỷ, trong lời nói đầu ấy chư vị thanh tịnh cả, vì chư vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc (9) như vậy.
1/ Tám Giới Khí
Bạch chư đại tỷ, 8 giới Ba la di (10) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1 giới làm sự bất tịnh. Nếu Tỳ kheo ni dâm dục, phạm vào sự bất tịnh (11) cho đến cùng với súc vật, thì phạm Ba la di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung (12) với chư tăng.
Thứ 2 giới lấy của không cho. Nếu Tỳ kheo ni ở trong xóm làng hay nơi vắng vẻ, lấy của người ta không cho với ý thức ăn trộm; tùy tội lấy của không cho mà bị vua, hay đại thần của vua, bắt, giết, trói, đuổi ra khỏi xứ, mắng rằng chị là giặc, chị ngu si, chị không biết gì. Nếu Tỳ kheo ni làm sự lấy của không cho như vậy thì phạm Ba la di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng.
Thứ 3 giới sát hại mạng người. Nếu Tỳ kheo ni cố ý tự tay sát hại mạng người, hoặc cầm dao đưa cho người, hoặc khen ngợi sự chết, khuyến khích sự chết, rằng quái lạ, người kia, sống khốn nạn như vậy làm gì, thà chết, đừng sống; với ý thức như vậy mà nghĩ mọi cách để khen ngợi sự chết, khuyến khích sự chết, thì phạm Ba la di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng.
Thứ 4 giới vọng ngữ loại lớn. Nếu Tỳ kheo ni thật không biết gì mà tự khen tôi được pháp của bậc thượng nhân, tôi đã nhập vào pháp siêu việt của thánh trí, tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy; qua thời gian khác, hoặc được hỏi hoặc không được hỏi, mà muốn tự thanh tịnh nên nói rằng, các đại tỷ, tôi thật không biết không thấy gì mà nói biết nói thấy, vọng ngữ dối trá, thì, trừ tăng thượng mạn, phạm Ba la di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng.
Thứ 5 giới nhiễm tâm xoa chạm. Nếu Tỳ kheo ni tâm ô nhiễm, cùng với người nam có tâm ô nhiễm, từ kẻ nách sắp xuống, từ đầu gối trở lên, hai thân thể chạm nhau, hoặc bóp hoặc xoa, hoặc kéo hoặc đẩy, hoặc xoa trên hoặc xoa dưới, hoặc bồng lên hoặc bế xuống, hoặc nắm hoặc bóp mạnh, thì phạm Ba la di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng, vì lẽ thân thể chạm nhau.
Thứ 6 giới nhiễm tâm tám sự. Nếu Tỳ kheo ni có tâm ô nhiễm, biết người nam cũng có tâm ô nhiễm, mà chịu cho nắm tay, nắm áo, vào chỗ khuất, đứng chung, nói chung, đi chung, thân thể dựa nhau, cùng nhau hẹn hò (13), thì phạm Ba la di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng, vì lẽ phạm vào tám sự.
Thứ 7 giới giấu che tội nặng. Nếu Tỳ kheo ni biết Tỳ kheo ni khác phạm Ba la di mà mình không phát lộ, không nói với Tỳ kheo ni khác, không thưa với đại chúng; qua thời gian khác, Tỳ kheo ni phạm tội hoặc chết, hoặc bị đại chúng cử tội, hoặc thôi tu, hoặc theo ngoại đạo, Tỳ kheo ni ấy bấy giờ mới nói, rằng trước đây tôi biết người này có tội như vậy như vậy, thì phạm Ba la di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng, vì lẽ che giấu tội nặng.
Thứ 8 giới theo kẻ bị cử. Nếu Tỳ kheo ni biết Tỳ kheo bị chư tăng cử tội một cách đúng giáo pháp, đúng giới luật, đúng Phật huấn dụ, nhưng Tỳ kheo kia không phục tùng, không sám hối, và chư tăng chưa làm Yết ma sống chung cho. Vậy mà Tỳ kheo ni ấy thuận tùng Tỳ kheo kia. Các Tỳ kheo ni can gián, rằng đại tỷ, Tỳ kheo kia bị chư tăng cử tội một cách đúng giáo pháp, đúng giới luật, đúng Phật huấn dụ, nhưng Tỳ kheo kia không phục tùng, không sám hối, và chư tăng chưa làm Yết ma sống chung cho, thì đại tỷ đừng thuận tùng. Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ hai và lần thứ ba, vì để cho Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ ba mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì phạm Ba la di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng, vì lẽ phạm vào sự thuận tùng kẻ bị chư tăng cử tội (14).
Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói 8 giới Ba la di. Nếu Tỳ kheo ni phạm vào mỗi một Ba la di, thì không còn được sống chung với chư Tỳ kheo ni. Như khi chưa thọ đại giới, thọ đại giới rồi mà vi phạm thì cũng vậy. Nên Tỳ kheo ni bị tội Ba la di thì không nên sống chung với chư tăng. Vậy nay xin hỏi chư đại tỷ, trong 8 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại tỷ, trong 8 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
2/ Mười Bảy Giới Tăng tàn
Bạch chư đại tỷ, 17 giới Tăng già bà thi sa (15) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1 giới làm người mai mối. Nếu Tỳ kheo ni làm mai mối, đem lời người nam nói với người nữ, đem lời người nữ nói với người nam, để làm cho họ lấy nhau hay tư thông với nhau, thì, dầu chỉ chốc lát, Tỳ kheo ni ấy cũng phạm Tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm (16).
Thứ 2 giới vu khống phỉ báng. Nếu Tỳ kheo ni vì tức giận, không hoan hỷ, nên, một cách vô căn cứ, phỉ báng vị khác phạm tội Ba la di, phỉ báng với ý thức muốn phá hoại sự thanh tịnh của vị ấy; rồi trong thời gian khác, được hỏi hay không được hỏi, Tỳ kheo ni ấy biết đó là sự phỉ báng vô căn cứ, và nói rằng vì tôi tức giận nên phỉ báng như vậy, thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 3 giới xuyên tạc phỉ báng. Nếu Tỳ kheo ni vì tức giận, không hoan hỷ, nên lấy một cạnh khía của việc khác, đối với vị Tỳ kheo ni không phạm Ba la di mà, một cách vô căn cứ, phỉ báng rằng phạm tội Ba la di, với ý thức phá hoại sự thanh tịnh của vị ấy; đến thời gian khác, được hỏi hay không được hỏi, Tỳ kheo ni ấy biết mình lấy một cạnh khía của việc khác, tự nói vì tôi tức giận nên phỉ báng như vậy, thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 4 giới đến quan thưa kiện. Nếu Tỳ kheo ni đến quan thưa kiện cư sĩ hay con cư sĩ, tôi tớ hay người làm thuê, thưa kiện một ngày, một đêm, một khoảnh khắc, một khảy móng tay, một giây phút, thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 5 giới biết mà độ giặc. Nếu Tỳ kheo ni biết trước là nữ tặc, tội đáng chết, ai cũng biết, vậy mà không hỏi vua hay đại thần, không hỏi thành phần xã hội (17) của nữ tặc, độ cho xuất gia và thọ cụ túc giới liền, thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 6 giới giải cho bị cử. Nếu Tỳ kheo ni biết Tỳ kheo ni khác bị chư tăng cử tội đúng giáo pháp, đúng giới luật, đúng Phật huấn dụ, mà không phục tùng, không sám hối, và chư tăng chưa làm Yết ma sống chung cho; vậy mà vì tình riêng, không hỏi chư tăng, chư tăng cũng không chỉ thị, vẫn ra khỏi cương giới làm Yết ma giải tội cho Tỳ kheo ni kia, thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 7 giới đi riêng ngủ lại. Nếu Tỳ kheo ni một mình lội nước, một mình vào làng, một mình ngủ lại, một mình đi sau, thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 8 giới nhiễm tâm nhận ăn. Nếu Tỳ kheo ni tâm ô nhiễm, biết người nam cũng tâm ô nhiễm, vậy mà từ người nam ấy nhận những thứ có thể ăn được, những thức ăn, những đồ vật khác, thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 9 giới khuyên nhận nhiễm thực. (18). Nếu Tỳ kheo ni khuyên Tỳ kheo ni khác, bằng cách nói như vầy, đại tỷ, người nam kia có nhiễm tâm hay không nhiễm tâm thì hại gì đại tỷ. Đại tỷ bản thân không có nhiễm tâm thì nếu được thức ăn nơi người nam kia, cứ đúng thời gian thích hợp mà nhận lấy. Khuyên như vậy thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại mới làm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 10 giới phá tăng hòa hợp. Nếu Tỳ kheo ni muốn phá hoại tăng hòa hợp (19) nên hành động mọi cách phá hoại tăng hòa hợp, chấp nhận mọi cách phá hoại tăng hòa hợp mà kiên trì không bỏ. Các vị Tỳ kheo ni nên can gián Tỳ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đừng phá hoại tăng hòa hợp, đừng hành động mọi cách phá hoại tăng hòa hợp, đừng chấp nhận mọi cách phá hoại tăng hòa hợp mà kiên trì không bỏ. Đại tỷ hãy cùng tăng hòa hợp; cùng tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, cùng học một thầy (20), như nước với sữa hòa nhau, thì trong Phật pháp sẽ có đời sống tăng ích, yên vui. Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 11 giới hỗ trợ phá tăng (21). Nếu Tỳ kheo ni ấy có các Tỳ kheo ni khác làm phe cánh, một người, hai người, ba người, cho đến vô số người; những Tỳ kheo ni phe cánh này nói với các Tỳ kheo ni, rằng các đại tỷ, xin đừng can gián Tỳ kheo ni ấy, Tỳ kheo ni ấy là Tỳ kheo ni nói đúng giáo pháp, Tỳ kheo ni nói đúng giới luật, Tỳ kheo ni ấy nói chúng tôi ưa thích, Tỳ kheo ni ấy nói chúng tôi chấp nhận. Các Tỳ kheo ni nói với các Tỳ kheo ni phe cánh, rằng các đại tỷ, đừng nói như vậy, rằng Tỳ kheo ni ấy là Tỳ kheo ni nói đúng giáo pháp, Tỳ kheo ni nói đúng giới luật, Tỳ kheo ni ấy nói chúng tôi ưa thích, Tỳ kheo ni ấy nói chúng tôi chấp nhận. Bởi vì Tỳ kheo ni ấy nói không phải nói đúng giáo pháp, không phải nói đúng giới luật. Các đại tỷ, đừng có ý muốn phá hoại tăng hòa hợp; các đại tỷ, hãy thích thú tăng hòa hợp. Các đại tỷ, hãy cùng tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, cùng học một thầy, như nước với sữa hòa nhau, thì trong Phật pháp sẽ có đời sống tăng ích, yên vui. Những Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để những Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 12 giới hoen ố tín đồ (22). Nếu Tỳ kheo ni sống trong thành thị hay xóm làng mà làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu (23), làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe. Các vị Tỳ kheo ni can gián Tỳ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đại tỷ đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu, làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe; đại tỷ đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu thì nay hãy đi xa khỏi xóm làng này, đừng nên ở đây nữa. Tỳ kheo ni ấy nói với các vị Tỳ kheo ni, rằng chư đại tỷ, các Tỳ kheo ni có tham, có sân, có si, có sợ; có cái việc những Tỳ kheo ni đồng tội mà người bị đuổi người không bị đuổi. Các vị Tỳ kheo ni can rằng, đại tỷ, đừng nói như vậy, rằng các vị Tỳ kheo ni có tham, có sân, có si, có sợ, có cái việc những Tỳ kheo ni đồng tội mà người bị đuổi người không bị đuổi. Bởi vì các vị Tỳ kheo ni không tham, không sân, không si, không sợ, không cái việc những Tỳ kheo ni đồng tội mà người bị đuổi người không bị đuổi. Đại tỷ đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu, làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe. Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 13 giới ngoan cố chống cự. Nếu Tỳ kheo ni tính tình ngoan cố, không nghe ai hết; trong giới luật, các vị Tỳ kheo ni đã can gián đúng phép mà bản thân Tỳ kheo ni ấy không chịu sự can gián ấy, bằng cách nói rằng, chư đại tỷ, đừng hướng về tôi mà nói tôi tốt hay tôi xấu, tôi cũng không hướng về chư đại tỷ mà nói các vị tốt hay các vị xấu. Chư đại tỷ hãy thôi đi, đừng luôn luôn can gián tôi. Các vị Tỳ kheo ni can gián Tỳ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đừng nên chính mình không chịu ai can gián. Đại tỷ nên chính mình chịu can gián. Đại tỷ hãy can gián chư Tỳ kheo ni một cách đúng phép, chư Tỳ kheo ni cũng can gián đại tỷ một cách đúng phép. Làm như vậy thì đệ tử của Phật được tăng ích nhờ can gián cho nhau, chỉ dạy cho nhau, sám hối với nhau. Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 14 giới thân nhau giấu lỗi. Nếu Tỳ kheo ni sống gần gũi với nhau mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn mà lần lượt che giấu tội lỗi cho nhau. Các Tỳ kheo ni khác nên can gián những Tỳ kheo ni ấy, rằng các đại tỷ, đừng gần gũi nhau mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn, rồi che giấu tội lỗi cho nhau. Các vị nếu không gần gũi với nhau như vậy, thì trong Phật pháp các vị sẽ được đời sống tăng ích và yên vui. Những Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để những Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì những Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 15 giới bảo đừng ở riêng. Nếu Tỳ kheo ni khi bị Tỳ kheo ni tăng quở trách can gián, Tỳ kheo ni khác chỉ bày như vầy, đại tỷ đừng chịu sống riêng, hãy cứ sống chung. Tôi thấy có các Tỳ kheo ni không chịu sống riêng, sống chung mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn và che giấu tội lỗi cho nhau. Chư Tỳ kheo ni tăng vì tức giận nên bảo đại tỷ sống riêng mà thôi. Các Tỳ kheo ni nên can gián Tỳ kheo ni khác ấy, rằng đại tỷ chớ bảo Tỳ kheo ni ấy đừng chịu sống riêng, chớ nói tôi thấy có các vị Tỳ kheo ni sống chung mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn và che giấu tội lỗi cho nhau; chư Tỳ kheo ni tăng vì tức giận nên bảo đại tỷ sống riêng mà thôi. Nay đúng ra chỉ có 2 Tỳ kheo ni là các vị sống chung mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn mà che giấu tội lỗi cho nhau, chứ không còn có ai khác nữa. Nếu các vị sống riêng thì trong Phật pháp các vị sẽ có đời sống tăng ích và yên vui. Tỳ kheo ni khác ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ni khác ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì Tỳ kheo ni khác ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 16 giới giận bỏ Tam bảo. Nếu Tỳ kheo ni vì một việc nhỏ nhặt, tức giận không vui, liền nói rằng tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng; thế gian này không phải chỉ có Sa môn Thích tử, mà còn có Sa môn bà la môn khác cũng tu phạn hạnh, tôi cũng có thể tu phạn hạnh với họ. Các Tỳ kheo ni hãy can gián Tỳ kheo ni ấy, rằng đại tỷ đừng vội vàng vì một việc nhỏ nhặt, tức giận không vui mà nói liền rằng tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng, thế gian này không phải chỉ có Sa môn Thích tử, mà còn có Sa môn bà la môn khác cũng tu phạn hạnh, tôi cũng có thể tu phạn hạnh với họ. Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 17 giới ưa cãi không nhớ. Nếu Tỳ kheo ni ưa tranh cãi vì không nhớ sự việc tranh cãi, lại tức giận mà nói rằng chư tăng có tham, có sân, có si, có sợ. Các Tỳ kheo ni phải can Tỳ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đừng ưa tranh cãi vì không khéo nhớ sự việc tranh cãi, lại tức giận mà nói rằng chư tăng có tham, có sân, có si, có sợ. Thật ra chư tăng không tham, không sân, không si, không sợ, mà đại tỷ tự mình có tham, có sân, có si, có sợ. Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không thì Tỳ kheo ni ấy phạm Tăng già bà thi sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói 17 giới Tăng già bà thi sa mà 9 giới trước thì mới phạm là thành tội, 8 giới sau thì sau 3 lần can gián mới thành tội. Nếu Tỳ kheo ni phạm mỗi một giới, thì chư tăng 2 bộ phải buộc Tỳ kheo ni ấy nửa tháng thi hành phép hoan hỷ (24). Thi hành phép hoan hỷ rồi chư tăng giải tội cho. Phải giữa chư tăng 40 vị của 2 bộ mà giải tội cho Tỳ kheo ni ấy; nếu thiếu 1 vị, không đủ 40 vị, thì có giải tội đi nữa, tội của Tỳ kheo ni ấy cũng không giải được, mà chư tăng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni (25) cũng đáng khiển trách. Đó là trường hợp (26) này. Nay xin hỏi chư đại tỷ, trong 17 giới Tăng già bà thi sa ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại tỷ, trong 17 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
3/ Ba mươi Giới Xả đọa
Bạch chư đại tỷ, 30 giới Ni tát kỳ Ba dật đề (27) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1 giới cất y quá hạn. Nếu Tỳ kheo ni 5 y đã hoàn chỉnh, y công đức (28) đã xả, mà cất giữ trường y (29) trong 10 ngày, thì không làm tịnh thí (30) cũng được cất giữ, nhưng quá hạn ấy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 2 giới rời y mà ngủ. Nếu Tỳ kheo ni 5 y (31) hoàn chỉnh, y công đức đã xả, mà trong 5 y rời 1 y ngủ khác chỗ trong 1 đêm, thì, trừ được tăng Yết ma (32) cho phép, phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 3 giới cất vải quá hạn. Nếu Tỳ kheo ni 5 y hoàn chỉnh (33), y công đức đã xả, nhưng Tỳ kheo ni ấy được vải phi thời, vậy cần thì cứ nhận, nhận rồi may y cho mau thành. Nếu vải đủ thì tốt, nếu vải không đủ thì được phép cất lại 1 tháng, chờ cho đủ vải. Nếu cất lại quá hạn ấy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 4 giới xin y không thân. Nếu Tỳ kheo ni xin y nơi cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến của mình, thì, trừ trường hợp khác, phạm Ni tát kỳ Ba dật đề. Trường hợp khác là nếu y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị trôi, như vậy gọi là trường hợp khác.
Thứ 5 giới lấy vải quá phận. Nếu Tỳ kheo ni y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị trôi, và nếu cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến của mình tự ý xin cho nhiều vải, thì Tỳ kheo ni ấy nên nhận vải ấy theo sự biết vừa đủ. Nếu nhận nhiều quá thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 6 giới xin thêm tiền y. Nếu Tỳ kheo ni có cư sĩ và vợ cư sĩ sắm tiền may y cho Tỳ kheo ni ấy, nói rằng sắm số tiền may y như vậy để cúng cho Tỳ kheo ni tên như vậy. Tỳ kheo ni ấy trước không có nhận lời xin tùy ý (34), vậy mà vì muốn được y tốt nên đến nhà cư sĩ, nói như thế này: tốt lắm, cư sĩ, hãy vì tôi mà sắm giá tiền như vậy cho tôi. Như vậy mà được y thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 7 giới khuyên chung tiền lại. Nếu Tỳ kheo ni có 2 cư sĩ và vợ cư sĩ sắm tiền mua y cho Tỳ kheo ni ấy, nói rằng chúng ta mua y như vậy để cúng cho Tỳ kheo ni tên như vậy. Tỳ kheo ni ấy trước không có nhận lời xin tùy ý, vậy mà vì muốn được y tốt nên đến nhà 2 cư sĩ nói như vầy: tốt lắm, cư sĩ, hãy sắm tiền mua y như vậy, chung nhau mà mua cho tôi 1 cái y. Như vậy mà được y thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 8 giới đòi y quá hạn. Nếu Tỳ kheo ni có vua, đại thần, bà la môn, cư sĩ và vợ cư sĩ, phái người đưa số tiền sắm y đến cho Tỳ kheo ni ấy, nói rằng hãy cầm tiền sắm y này đến đưa cho vị Tỳ kheo ni tên như vậy. Người được phái đến chỗ Tỳ kheo ni ấy, nói với Tỳ kheo ni ấy, rằng bạch đại tỷ, nay con đem tiền sắm y đến cho bà, xin bà nhận lấy. Tỳ kheo ni ấy nói như thế này với người được phái, rằng tôi không nên nhận số tiền sắm y này; nếu khi tôi cần y thì phải đúng lúc và thanh tịnh mới nhận được. Người được phái nói với Tỳ kheo ni ấy, rằng bạch đại tỷ, bà có người giúp việc không? Tỳ kheo ni ấy nói có; có người ở trong chùa kia, có người nữ cư sĩ kia, họ là những người giúp việc của các Tỳ kheo ni, thường giúp việc cho các vị. Bấy giờ người được phái đi đến nơi người giúp việc, giao số tiền sắm y, rồi trở lại chỗ Tỳ kheo ni ấy mà nói như vầy: bạch đại tỷ, người giúp việc tên như vậy, mà bà đã chỉ, con đã giao cho người ấy số tiền sắm y. Khi nào bà thấy đúng lúc thì xin bà đến người ấy, sẽ sắm được y. Tỳ kheo ni ấy khi cần y thì nên đến người giúp việc mà, lần thứ hai và lần thứ ba, nhắc cho người ấy nhớ, bằng cách nói rằng tôi cần y; nếu lần thứ hai và lần thứ ba nhắc cho người ấy nhớ mà được y thì tốt. Nếu không được y thì lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu, hãy yên lặng đứng trước người ấy cho người ấy nhớ; nếu lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu, yên lặng đứng trước người ấy mà được y thì tốt. Nếu không được y mà đòi quá giới hạn nói trên để cho được y, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề. Nếu không được y thì tự mình đi hay phái người đi, đến nơi người cho tiền sắm y mà nói, rằng trước đây người phái người đem tiền sắm y đến cho tôi, Tỳ kheo ni tên như vậy; nhưng rốt cuộc tôi không được y, vậy người hãy đi lấy về, đừng để mất đi. Đó là trường hợp có thể làm.
Thứ 9 giới cầm lấy tiền của. Nếu Tỳ kheo ni tự tay cầm lấy bạc vàng hay tiền, hoặc bảo người cầm lấy, hoặc nhận lấy bằng cách miệng nói được (35), thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 10 giới bán mua (36) bảo vật. Nếu Tỳ kheo ni mà bán mua các thứ bảo vật, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 11 giới buôn bán các thứ. Nếu Tỳ kheo ni mà mua rẻ bán đắt mọi thứ thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 12 giới kiếm bát quá phận. Nếu Tỳ kheo ni dùng cái bát chưa đủ 5 chỗ hàn bịt, bát ấy cũng chưa rỉ nước, vậy mà thay vào đó đi tìm bát mới cho đẹp, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề. Tỳ kheo ni ấy nên đem cái bát mới ấy đến giữa ni chúng mà xả bỏ. Ni chúng tuần tự đem đổi từ thượng tọa đến hạ tọa, lấy cái bát của hạ tọa đưa cho Tỳ kheo ni ấy, và nói rằng hiền muội (37) dùng cái bát này cho đến bể. Đó là đúng trường hợp.
Thứ 13 giới kiếm chỉ dệt y. Nếu Tỳ kheo ni tự xin chỉ sợi, bảo thợ dệt không phải thân quyến của mình dệt y giúp, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 14 giới bảo thợ dệt thêm. Nếu Tỳ kheo ni có cư sĩ hay vợ cư sĩ bảo thợ dệt dệt y cho Tỳ kheo ni ấy. Tỳ kheo ni ấy trước không có nhận lời xin tùy ý, lại đi đến chỗ thợ dệt, bảo rằng y này là dệt cho tôi, vậy anh dệt giúp cho thật đẹp, dệt cho rộng và bền, tốn thêm nhiều ít gì tôi cũng trả cho anh. Tỳ kheo ni ấy trả thêm tiền dầu chỉ đáng giá một bữa ăn mà được y, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 15 giới đoạt lấy y lại. Nếu Tỳ kheo ni trước cho y Tỳ kheo ni khác, sau vì tức giận nên tự đoạt lại, hay bảo người đoạt, và rằng hãy trả y lại cho tôi, tôi không cho đại tỷ nữa. Tỳ kheo ni này trả y, mà Tỳ kheo ni ấy lấy y, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 16 giới cất thuốc quá hạn. Nếu Tỳ kheo ni có bịnh, cất thuốc như sữa tô, dầu, sữa tô tươi, mật ong, đường phèn, được dùng cách đêm cho đến 7 ngày. Nếu quá 7 ngày mà còn dùng thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 17 giới cất y cúng gấp. Nếu Tỳ kheo ni còn 10 ngày nữa thì hết kiết hạ 3 tháng (38), chư Tỳ kheo ni được phép nhận y cúng vội vàng. Tỳ kheo ni ấy biết là y cúng vội vàng thì nên nhận, nhận rồi được cất giữ trong thì hạn của y ấy (39). Nếu cất giữ quá thì hạn ấy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 18 giới xoay vật chư tăng. Nếu Tỳ kheo ni biết đó là vật người ta muốn hiến cúng cho chư tăng, mà mình tìm cách xoay lại hiến cúng cho mình, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 19 giới đòi vầy đòi khác. Nếu Tỳ kheo ni muốn đòi hỏi cái này lại đòi hỏi cái khác, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 20 giới tiền đường làm y. Nếu Tỳ kheo ni biết đàn việt hiến cho chư tăng là để làm pháp đường, vậy mà mình đổi ra làm những việc khác, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề (40).
Thứ 21 giới tiền ăn làm y. Nếu Tỳ kheo ni biết đàn việt hiến cho chư tăng là để ăn, mình kiếm cũng là kiếm cho chư tăng ăn, vậy mà mình đổi ra làm những việc khác, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 22 giới tiền phòng làm y. Nếu Tỳ kheo ni biết đàn việt hiến cho chư tăng là để làm phòng, vậy mà mình đổi ra làm những việc khác, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 23 giới tiền nhà làm y. Nếu Tỳ kheo ni biết đàn việt hiến cho chư tăng là để làm nhà, mình kiếm cũng là kiếm để làm nhà cho chư tăng, vậy mà mình đổi ra làm những việc khác, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 24 giới cất trường bát tốt. Nếu Tỳ kheo ni cất giữ trường bát (41) mà không tịnh thí, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 25 giới cất nhiều đồ tốt. Nếu Tỳ kheo ni cất nhiều đồ màu tốt, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 26 giới không cho bịnh y. Nếu Tỳ kheo ni hứa cho bịnh y (42) cho Tỳ kheo ni khác, nhưng rồi không cho, thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 27 giới y thời phi thời. Nếu Tỳ kheo ni đem phi thời y làm thời y (43), thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 28 giới giận lấy y lại. Nếu Tỳ kheo ni đã đổi y cho Tỳ kheo ni khác rồi, sau đó tức giận nên tự đoạt lại hay bảo người đoạt lại, rằng hiền muội hãy trả y lại cho tôi, tôi không cho hiền muội nữa; y của tôi hiền muội trả cho tôi, y của hiền muội tôi trả cho hiền muội. Đoạt lại như vậy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 29 giới áo dày quá giá. Nếu Tỳ kheo ni xin áo dày thì chỉ được ngang với giá tiền 4 tấm vải mịn (44); quá giá ấy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Thứ 30 giới áo mỏng quá hạn. Nếu Tỳ kheo ni muốn xin áo mỏng (45) thì cao lắm cũng chỉ đến giá tiền 2 tấm rưỡi vải mịn; quá giá ấy thì phạm Ni tát kỳ Ba dật đề.
Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói 30 giới Ni tát kỳ Ba dật đề. Nay xin hỏi chư đại tỷ, trong 30 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại tỷ, trong 30 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
4/ Một Trăn Bảy Tám Giới Đọa
Bạch chư đại tỷ, 178 giới Ba dật đề (46) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1 giới cố ý nói dối. Nếu Tỳ kheo ni cố ý nói dối, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 2 giới chưởi mắng thành phần (47). Nếu Tỳ kheo ni chưởi mắng, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 3 giới nói để ly gián. Nếu Tỳ kheo ni nói ly gián thì phạm Ba dật đề.
Thứ 4 giới ngủ cùng một nhà. Nếu Tỳ kheo ni cùng người nam ngủ một nhà thì phạm Ba dật đề.
Thứ 5 giới ngủ quá thì hạn. Nếu Tỳ kheo ni cùng ngủ một nhà với người nữ chưa thọ đại giới mà quá 3 đêm, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 6 giới đọc tụng ồn náo. Nếu Tỳ kheo ni cùng với người chưa thọ đại giới đọc tụng kinh pháp một cách ồn náo, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 7 giới nói tội lỗi nặng. Nếu Tỳ kheo ni biết người có tội lỗi nặng mà đem nói với người chưa thọ đại giới, thì, trừ tăng Yết ma sai bảo, phạm Ba dật đề.
Thứ 8 giới nói thật đắc đạo. Nếu Tỳ kheo ni nói với người chưa thọ đại giới, rằng tôi được cái pháp hơn người, rằng tôi thấy như vậy, tôi biết như vậy; nói thật như vậy thì phạm Ba dật đề.
Thứ 9 giới một mình thuyết pháp. Nếu Tỳ kheo ni thuyết pháp cho người nam mà quá năm sáu lời (48), thì, trừ sự có mặt của nữ nhân trí thức, phạm Ba dật đề.
Thứ 10 giới đào cuốc đất đai. Nếu Tỳ kheo ni tự tay đào đất hay bảo người đào đất, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 11 giới chặt phá cây sống. Nếu Tỳ kheo ni chặt phá cây cối, có nghĩa phá hủy chỗ ở của quỉ thần và sinh vật (49), thì phạm Ba dật đề.
Thứ 12 giới nói làm bực mình. Nếu Tỳ kheo ni bày đặt nói quanh để làm người khác bực mình, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 13 giới ghét mắng tri sự. Nếu Tỳ kheo ni ghét mắng chức sự của chư tăng thì phạm Ba dật đề.
Thứ 14 giới trải đồ đất trống. Nếu Tỳ kheo ni đem đồ của chư tăng như giường giây (50), giường cây, đồ nằm và nệm ngồi, tự sắp ra trên mặt đất trống, hay bảo người sắp ra, dùng rồi bỏ đó mà đi, không tự xếp cất, cũng không bảo ai xếp cất, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 15 giới trải đồ chỗ che. Nếu Tỳ kheo ni sắp đồ nằm của chư tăng ra trong tăng phòng, tự mình sắp ra hay bảo người sắp ra, hoặc ngồi hoặc nằm, rồi bỏ đó mà đi, không tự xếp cất, cũng không bảo ai xếp cất, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 16 giới cưỡng chiếm chỗ nằm. Nếu Tỳ kheo ni biết chỗ của Tỳ kheo ni ở trước, mình đến sau mà cưỡng chiếm ở giữa, trải đồ nằm ra ngủ nghỉ, với ý nghĩ rằng nếu Tỳ kheo ni ở trước hiềm chật quá thì sẽ tự tránh mình mà đi. Ấy là muốn làm như thế chứ không có lý do gì khác. Phi uy nghi như vậy thì phạm Ba dật đề.
Thứ 17 giới lôi ra khỏi phòng. Nếu Tỳ kheo ni tức giận, không ưa Tỳ kheo ni khác, nên trong phòng của chư tăng mà tự mình lôi ra hay bảo người lôi ra, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 18 giới ngồi giường sút chân. Nếu Tỳ kheo ni ở trên gác, mà ngồi hay nằm trên giường giây hay giường cây sút chân, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 19 giới dùng nước có trùng. Nếu Tỳ kheo ni biết nước có trùng mà tự đem dội trên đất trên cỏ, hay bảo người dội, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 20 giới lợp nhà quá mức. Nếu Tỳ kheo ni làm phòng hay nhà lớn, có cửa cánh, cửa sổ, và những đồ trang trí khác, thì chỉ bảo lợp tranh chừng hai hay ba lớp. Lợp quá thì phạm Ba dật đề.
Thứ 21 giới ăn quá một bữa. Nếu Tỳ kheo ni có thí chủ chỉ cúng một bữa ăn, Tỳ kheo ni ấy không bịnh thì nên ăn một bữa thôi. Nếu ăn quá đi thì phạm Ba dật đề.
Thứ 22 giới ăn riêng tăng chúng. Nếu Tỳ kheo ni ăn riêng tăng chúng thì, trừ các trường hợp khác, phạm Ba dật đề. Các trường hợp khác là khi bịnh, khi may y gấp, khi có người dâng y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại chúng tập hợp, khi Sa môn của ngoại đạo mời ăn, đó gọi là các trường hợp khác.
Thứ 23 giới nhận quá giới hạn. Nếu Tỳ kheo ni đến nhà cư sĩ tha thiết thỉnh Tỳ kheo ni để cúng bánh, miến và cơm, Tỳ kheo ni ấy nếu cần thì nhận vài ba bát, đem về trong chùa nên chia cho các Tỳ kheo ni khác cùng ăn. Nếu Tỳ kheo ni ấy không bịnh mà nhận quá vài ba bát, đem về trong chùa cũng không chia cho các Tỳ kheo ni khác cùng ăn, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 24 giới ăn lúc phi thời. Nếu Tỳ kheo ni ăn lúc không phải giờ ăn (51), ăn như vậy thì phạm Ba dật đề.
Thứ 25 giới ăn đồ cách đêm. Nếu Tỳ kheo ni đồ ăn để cách đêm mà ăn thì phạm Ba dật đề.
Thứ 26 giới ăn đồ không nhận. Nếu Tỳ kheo ni đối với thức ăn hay thuốc mình không nhận lời mời mà đã bỏ vào miệng (52) thì, trừ nước và tăm, phạm Ba dật đề.
Thứ 27 giới đi mà không nói. Nếu Tỳ kheo ni trước đã nhận lời mời về bữa ăn trước hay bữa ăn sau (53), rồi đi đến nhà khác mà không dặn lại cho các Tỳ kheo ni, thì, trừ trường hợp khác, phạm Ba dật đề. Trường hợp khác là bịnh, may y, cho y, đó gọi là trường hợp khác.
Thứ 28 giới nhà ăn ngồi dai. Nếu Tỳ kheo ni tại nhà ăn có vật báu (54) mà mình miễn cưỡng ngồi dai, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 29 giới nhà ăn ngồi khuất. Nếu Tỳ kheo ni tại nhà ăn có vật báu mà mình ngồi chỗ khuất, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 30 giới ngồi với người nam. Nếu Tỳ kheo ni một mình cùng với người nam ngồi chung một chỗ ở đất trống, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 31 giới đuổi người đi đi. Nếu Tỳ kheo ni nói với Tỳ kheo ni khác như vầy, đại tỷ, đi với tôi đến xóm làng, sẽ có thức ăn cho đại tỷ. Nhưng đến rồi, Tỳ kheo ni ấy đã không khuyên cúng thức ăn cho Tỳ kheo ni khác này, mà lại bảo đại tỷ đi đi, tôi cùng đại tỷ ngồi hay nói với nhau một chỗ thì tôi không ưa, tôi ngồi một mình nói một mình thì thích hơn. Chỉ vì lý do như vậy, chứ không có lý do gì khác hơn mà tìm cách xua đuổi người khác đi đi, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 32 giới nhận thuốc quá hạn. Nếu Tỳ kheo ni được xin cho thuốc 4 tháng, Tỳ kheo ni ấy không bịnh cũng nên nhận. Nhưng nếu nhận quá thì hạn ấy, thì, trừ người ta xin cho luôn, xin cho thêm, xin chia mà cho, xin cho suốt đời, phạm Ba dật đề.
Thứ 33 giới đi coi quân trận. Nếu Tỳ kheo ni đi coi quân trận thì, trừ trường hợp có lý do, phạm Ba dật đề.
Thứ 34 giới trong quân quá hạn. Nếu Tỳ kheo ni có lý do thì được phép đến trong quân đội tá túc 2 đêm 3 đêm, quá thì hạn ấy thì phạm Ba dật đề.
Thứ 35 giới coi quân diễn tập. Nếu Tỳ kheo ni được phép tá túc trong quân đội vài ba đêm mà hoặc coi quân đội dàn trận, hoặc coi lực lượng tượng binh lính diễn tập, thì phạm Ba dật đề.
Thứ 36 giới uống các thứ rượu. Nếu Tỳ kheo ni uống các thứ rượu thì phạm Ba dật đề.
Thứ 37 giới đùa giỡn dưới nước. Nếu Tỳ kheo ni đùa giỡn dưới nước thì phạm Ba dật đề.