Monday, November 23, 2015

Niềm An Lạc Trong Sự Hành Trì Giới Luật.



ĐỀ CƯƠNG

A- DẪN NHẬP.
B- NỘI DUNG.
  1.  Sơ lược về lịch sử truyền thừa Giới Luật
    1. Truyền thừa Giới Luật tại Aán Độ
    2. Giới luật truyền thừa sang Trung Hoa
    3. Giới Luật truyền đến Việt Nam
  2.  Khái quát về Giới Luật
    1. Nguyên nhân Đức Phật chế giới
    2. Định nghĩa Giới Luật
    3. Phân loại Giới Luật
    4. Nội dung Giới Luật
  3.  Niềm an lạc trong sự hành trì Giới Luật.
    1. Hành trì Giới Luật là niềm an lạc thánh thiện hoá của người con phật                   
    2. Sự hành trì Giới Luật là yếu tố tu dưỡng giới thân huệ mạng
    3. Giới Luật là nền tảng của sự an lạc giải thoát      
C- KIẾT LUẬN.
                                        

A. DẪN NHẬP
 
Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, là huyết mạch của đạo Phật trường tồn, có thể nói không một tông phái nào của Phật giáo mà không gìn giữ giới luật. Giới luật là bước đầu của sự tiến tu đạo nghiệp, dù Nam tông hay Bắc tông. Vì sự quan trọng đó nên Đức Như Lai trước khi nhập diệt Ngài còn đinh ninh dặn dò: “ Các đệ tử hãy lấy giới luật làm thầy”, giới luật là đạo sư luôn hướng dẫn chánh đáng cho mọi sự sinh hoạt của người tu hành chơn chánh, giới luật là nguồn gốc phát khổi định lực và huệ lực:
Kính lạy giới hay sanh định tuệ
Chứng Niết bàn khế hợp chơn như
Aùc duyên ba nghiệp tiêu trừ
Tam thừa quả mãn vô dư Niết bàn.
Do vậy, trong suốt 49 năm hoằng pháp độ sanh giáo pháp của đức Phật nói ra không ngoài ba môn Giới- Định- Tuệ. Trong đó giới là nền đất giữ gìn cho bước đi đầu tiên, làm cơ sở, nền tảng tiến tới an lạc giải thóat.
Lý do đó người viết chọn đề tài “Niềm An Lạc Trong Sự Hành Trì Giới Luật”.
Vì nguời viết thấy đây là vấn đề rất thiết thực cho những ai hành trì giới luật nghiêm tịnh, có thể diệt trừ được nghiệp quấy ác yên tâm trong thiền quán, không bị dày vò hối hận bất an. Từ đó trong cuộc sống hằng ngày ta cảm thấy an lạc không còn phiền toái bởi những dục vọng đam mê…
Truớc khi đi vào nội dung của đề tài con xin thành kính tri ân: Hòa thượng Hiệu trưởng, quý Chư Tôn Đức trong Ban Giám Hiệu, Ban Giảng Huấn trường Cao Trung Phật học và nhất là Ni Trưởng Như Đức Người đã hướng dẫn cho con hoàn thành bản luật văn này. Quý Ngài đã đến với chúng con bằng con tim và khói óc, bằng lòng từ vô bờ bến, đã tận tâm tận lực truyền trao phần gia bảo mà Quý Ngài đã kế thừa Đức Như Lai để lại. Quý Ngài không những cho chúng con kiến thức Phật học mà còn trao cho chúng con kinh nghiệm tu học của bản thân, hầu làm tư lương cho chúng con trên bước đường tu học.
Con cũng thành kính tri ân nhị vị Ni Trưởng Chùa Chánh Giác, Ni Sư trụ trì chùa Kim Liên đã hết lòng giúp đỡ, tạo điều kiện cho con an tâm tu học trong những năm qua. Và sau cùng con thành kính tri ân thầy Bổn Sư, Sư Chú, chư huynh đệ Chùa Linh Phong, đã tận tâm tận lực hy sinh cho con có được sở học như ngày hôm nay.

B. NỘI DUNG
 
  1. SƠ LUỢC VỀ SỰ TRUYỀN THỪA GIỚI LUẬT:
Trước khi nhập Niếp Bàn Đức Thế Tôn đã ân cần tha thiết khuyên nhủ hàng đệ tử phải hết sức tôn trọng và giữ gìn Ba La Đề Mộc Xoa.
Vâng, và lời di huấn  ấy đã được các thánh đệ tử của Ngài từ  nước Ấn trân quý, giữ gìn tiếp nối sự  nghiệp  của Ngài hoằng truyền luật tạng khắp năm châu bốn  bể, Tổ Tổ tương truyền, giới luật truyền  lưu hậu thế.
  1. Sự truyền thừa giới luật ở Ấn Độ
  1. Thời kỳ nguyên thủy (544-380 trước TL)
 Sau khi Đức Thế Tôn vừa mới thâu thần  tịch diệt, có thầy Tỳ Kheo Bạt Nan Đà không biết nghĩ thế nào mà thốt ra những lời hết sức đau buồn : “Lão già ấy chết đi là tốt, lúc lão còn tại thế quy định điều này nên làm, điều kia nên làm, nay lão ấy chết rồi, chúng ta được tự do” Những lời ấy làm cho Tôn Gỉa  Ca Diếp hết sức cảm thương và đau buồn Ngài nghĩ “Nếu quả thật như vậy, tinh thần và công đức cứu thế của Phật Giáo nhân vì Đức Phật nhập diệt mà cũng theo đó kết thúc sao?
Ngài nhớ lại lời di chúc sao cùng của Đức Phật lúc mới nhập diệt “Các thầy Tỳ Kheo, sau khi ta diệt độ, các thầy phải trân quý Ba La Đề Mộc Xoa, như người mù được sáng mắt, người nghèo nàn được của báu, người bệnh được lành, như người tù được về phải biết Ba La Đề Mộc Xoa là thầy cao cả. Nếu ta còn ở đời thì cũng không khác pháp này” Nhân đó sau khi làm lễ trà tỳ Đức Thế Tôn xong Ngài Ca Diếp quyết định triệu tập 500 vị A La Hán nhóm tại hang Thất Diệp ở núi Kỳ Xà Quật để kết tập Kinh Luật. Đây là lần kết tập đầu tiên Tôn Gỉa Ca Diếp được suy cử ngôi chủ tọa, Ngài A Nan tụng lại Tạng Kinh, Ngài Ưu Ba Ly trùng tuyên lại Luật Tạng đến 80 lần khiến cho Đại Chúng đều phải thuộc lòng nên gọi là “Bát Thập Tụng Luật” Và lần kết tập giới luật này được áp định trong tăng đoàn không khác trước. Nhưng dần về sau do sự truyền bá quá rộng, hoàn cảnh địa lý, chủng tộc bất đồng,Vả lại một số Trưỡng Lão không tham dự trong lần kết tập đó nên sinh hoạt tăng đoàn không được thống nhất, kiến giải không đồng, từ đó dẫn đến sự phân chia bộ phái
  1. Thời Kỳ Bộ Phái (350-100 trước TL
                             -Theo Nam Phương Phật Giáo:
  Sau Phật diệt độ 100 năm, trong giáo đoàn có sự bất đồng về 10 tịnh pháp của Tỳ Kheo Bạt Kỳ ở Tỳ Xá Ly, nên chia thành hai phái. Vì thế sự lưu truyền giới luật cũng chia thành giới luật bộ phái, mỗi bộ phái có giới luật riêng lưu truyền trong bộ phái của mình.
1-Thượng Tọa Bộ (Mahathera): Chủ trương bảo thủ giới luật Nguyên Thủy sinh hoạt  y khuôn như phật còn tại thế.
2-Đại Chúng Bo (Mehàsangika): Chủ trương cải tiến, nhưng vẫn thiên trọng về tinh thần giới luật, vâng giữ thánh ý chư Phật và tùy thuận những vị đã chế giới luật để sinh hoạt kết hợp tùy duyên với mọi nơi
-Theo Bắc Phương Phật Giáo: do sự bất đồng về tư tưởng của Đại Thiên, sau khi xuất gia ông xưng là A La Hán nói ra năm việc như sau:
“Dư sở, du vô tư.
Do dự thanh tịnh nhập.
Đạo nhân thanh cô khởi.
Thị danh chư Phật Giáo”
Nhân đây Đại Chúng chia thành hai phái: Đại Chúng Bộ, Thượng Tọa Bộ.
Đại Chúng Bộ, ý muốn đổi mới cho hợp trào lưu thời đại nên thể theo lời Phật dạy “Tuy là điều giới của ta chế nhưng địa phương khác cho là không thanh tịnh thì không nên dùng, tuy không phải điều ta chế nhưng địa phương cho hợp lý nên làm” Nhưng trong bộ này các chủ thuyết độc tôn tách ra thành tám bộ phái riêng lẽ :
  1. Nhất Thiết bộ
  2. Thuyết Nhất Thế bộ
  3. Kê Dẫn bộ
  4. Đa Văn bộ
  5. Thuyết Gỉa bộ
  6. Chế Đa Sơn bộ
  7. Tây Sơn Trụ bộ
  8. Bắc SơnTrụ bộ
Thượng Tọa Bộ: Gồm những bậc niên cao lạp trưỡng thủ cụ theo chủ trương của Ngài Ca Diếp “Điều Phật đã chế không được bác bỏ, điều luật chưa chế không được chế thêm” Tuy bảo thủ nhưng cũng phân chia thành 10 phái riêng:
1- Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ
2- Độc Tử Bộ
3- Pháp Thượng Bộ
4- Hiền Thủ Bộ
5- Chánh Lượng Bộ
6- Mật Lâm Sơn Bộ
7- Hóa Địa Bộ
8- Pháp Tạng Bộ
9- Ẩm Quang Bộ
       10-Kinh Lượng Bộ
Cộng chung lại có tất cả 20 bộ phái, nhưng trong đó nổi bậc nhất là Đại Chúng Bộ, Thượng Tọa Bộ vàThuyết Nhất Thiết Hữu Bộ điều dựa theo giới hạnh của vị Trưỡng Phái của mình mà trong giới luật cũng chia thành 20 loại. Điều này được Đức Phật huyền ký lại với Ngài Văn Thù rằng: “Đời vị lai chánh pháp của ta được tồn tại sẽ chia thành 20 bộ phái, như người có 20 đứa con đều thương yêu bình đẳng, cũng như các biển đều đồng một vị mặn, đó là chất liệu giải thoát trong 20 bộ phái, ai tu theo phái nào cũng chứng thành phật quả”
Y cứ vào lịch sử truyền thừa của giới luật, sau khi kết tật luật tạng lần thứ nhất, từ Tôn Gỉa Ca Diếp truyền đến Tôn Giả A Nan rồi đến Mạc Điền Địa (Xá Na Ba Đề), Thương Na Hòa Tu, Ưu Ba Quật Đa. Năm đời dưới Ưu Ba Quật Đa có năm đệ tử, theo quan điểm cá biệt của mỗi vị đối với nội dung của luật tạng có sự bỏ lấy bất đồng mà từ đó luật tạng được phân làm năm bộ chủ yếu:
1-Bộ Đàm Vô Đức: xuất từ phái Pháp Tạng Bộ chủ thuyết về Luật Tứ Phần
2-Bồ Tát Bà Đa: xuất từ phái Thuyết Hữu Bộ, chủ thuyết Thập Tụng Luật
3-Bộ Ca Diếp Di: xuất từ phái Ẩm Quang Bộ, chủ thuyết về Giải Thoát Giới Bổn
4-Bộ Di Sa Tắc: xuất từ phái Hóa Địa Bộ, chủ thuyết về Luật Ngũ Phần
5-Bộ Ma Ha Tăng Kỳ: xuất từ  trong phái Đại Chúng Bộ, chủ thuyết về Luật Thiện Kiến (chưa truyền sang Trung Hoa)
Trên đây là những dữ liệu sự truyền thừa luật tạng từ Ấn Độ, và dần dần giới luật được truyền qua Trung Quốc.
  1. Giới Luật truyền sang Trung Hoa:
Thời kỳ 100 năm trước TL -300 năm sau TL là thời kỳ Phật Giáo phát triển, truyền bá sâu rộng trên thế giới bởi hai hệ Nam Truyền và Bắc Truyền. Giới Luật cũng theo đây mà du nhập và phát triển. Trung Quốc là một trong các nước Phật Giáo du nhập sớm nhất.
  1. Thời Tam Quốc: Phật Giáo Trung Quốc bắt đầu có Giới Luật vào thế kỷ III đời Tàu Ngụy (220-265) niên hiệu Gia Bình năm thứ II, do Ngài Đàm Ma Ca La, Tự Pháp Thời ở Trung Ấn qua ở Chùa Bạch Mã tại Kinh Đô Lạc Dương (250TL) tụng thuộc bộ Tỳ Kheo Ni Giới Bổn của phái Ma Ha Tăng Kỳ, giảng và dịch bộ Tăng Kỳ Giới Bổn. Năm 254 TL, Ngài Đàm Dể và Ngài Khương Tăng Khải ở Ấn Độ đưa qua bộ Luật Đàm Vô Đức rồi dịch ra chử Tàu. Trong đó nói rõ các Pháp Yết Ma, cách thức truyền thọ giới đàn, nhờ đó Trung Hoa lập ra giới đàn đầu tiên truyền cho 10 vị xuất gia. Trong số đó có Chu Sĩ Hành, người Hà Nam sau khi thọ giới Tỳ Kheo Ngài chuyên nghiên cứu kinh điển giảng Tiểu Phẩm Bát Nhã. Để nghiên cứu sâu rộng, Ngài quyết tâm sang Tây Vực cầu học, có thể nói Ngài là người đầu tiên mở đường cho phong trào “Nhập Trúc cầu pháp” Ở Trung Hoa
  2. Thời Bắc Triều.
         -Bắc Triều: Thời Tiền Tần có Ngài Đàm MaTrí và Trúc Phật Niệm, người Lương Châu dịch bộ Thập Tụng Tỳ Kheo Giới Bổn,Tỳ Kheo Ni Đại Giới vào đời Hậu Tần (Diêu Tần) niên hiệu Hoàng Thỉ từ năm (404-406), Ngài Cưu Ma La Thập và Bát Nhã Đa La dịch Thập Tụng Luật 58 quyển. Niên hiệu Hoàng Thỉ thứ 12-15 (410-413) Ngài Phật Đà Da Xa vàTrúc Phật Niệm dịch Tứ Phần Luật 60 quyển, Ngài Phật Đà Da Xá dịch Tứ Phần Giới Bổn 1 quyển. Đến khi nhà Ngụy thống nhất 16 nước Ngũ Hồ vào đời Nguyên Ngụy có Ngài Bát Nhã Lưu Chi dịch Giải Thoát Giới Bổn 1 quyển
    -Nam Triều: Niên hiệu Nghĩa Hy năm thứ 14 (418TL) có Ngài Phật Đà Bạt Đà La Giác Hiền cùng Pháp Hiển dịch bộ Ma Ha Tăng Kỳ Luật 40 quyển, Tỳ Kheo Ni Tăng Kỳ Luật Ba La Đề Mộc Xoa Giới Kinh 1 quyển . Đến đời Lưu Tống, niên hiệu Phổ Bình năm thứ I (432TL) Ngài Phật Đà Thập và Trí Đạo Sinh dịch bộ Ngũ Phần Luật 30 quyển, Ngài Tam Tạng Cầu Na Bạt Ma dịch Ưu Bà Tắc Giới Kinh, Sa Di Oai Nghi, Tứ Phần Ni Yết Ma 1 quyển, Ưu Ba Ly Vấn Kinh 1 quyển.
  - Thời Nhà Đường: Đường Thái Tôn kế vị Đường Cao Tổ, Phật Giáo Trung Quốc cực thịnh vì Vua rất mộ đạo. Thời này có danh Tăng nổi tiếng nhất là Ngài Huyền Trang, sau khi du học về nước Vua sắc cho ở Chùa Từ Ân dịch Kinh và truyền đạo. Thế kỷ thứ 7 có Luật Sư Đạo Tuyên hiệu Nam Sơn là đệ tử xuất sắc của Pháp Sư Huyền Trang rõ thông Tam Tạng nên Ngài có công rất lớn trong việt dịch giải nhiều loại giới luật,  truyền bá rộng rãi, Tứ Phần quyển Luật và Đàm Vô Đức do chính Ngài dịch 60 quyển, bộ Giới Sớ 8, bộ Luật Hành Sự Sao 12 quyển và bộ Bịnh Luận Nghiệp Qủa 8 quyển, Thập Tỳ Ni Nghĩa Sao 4 quyển, Tỳ Ni Sao 6 quyển … các bộ luật ngài dịch rất nhiều, Ngài rất tận tâm với các phật sự và tu niệm tinh chuyên nghiêm minh giới luật, được tôn làm Sơ Tổ sáng lập Luật Tôn Trung Quốc và Luật Tôn thời này cực thạnh chói rạng trong thiên hạ .
Về sau thấy người hành giới xao lãng, Ngài Phật Đồ Trừng làm bộ Luật Tông Hành Nguyên để nhắc nhở. Riêng Ngài Tam Tạng Nghĩa Tịnh dịch rất nhiều bộ luật có giá trị như:
- Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Bí Sô Ni Tỳ Nại Da 20 quyển
- Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da 50 quyển.
- Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tập Sự 40 quyển
- Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Ni Đà Na 3 quyển
- Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Bách Nhất Yết Ma 10 quyển
- Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Giới Kinh 1 quyển
- Bí Sô Ni Giới Kinh 1 quyển
- Yết Ma Nghi Phạm 1 quyển
- Ni Đà Na Mục Đắc Ca Nhiếp Tạp Sự Tụng 1 quyển
- Căn Bản Tác Bà Đa Luận 1 quyển
Ngoài ra còn có rất nhiều bộ kinh thuộc chi nhánh của luật và những bộ luật giải thích các bộ Đại Luật cũng được các ngài dịch ra. Những bộ luật lớn được truyền qua Trung Hoa và được dịch giải một cách đầy đủ, nhưng sự thịnh hành và hoằng dương các bộ luật chênh lệch về thời gian như:
Thập Tụng Luật tuy được dịch ở Quang Trung đời Diêu Tần nhưng đến thời Lục Triều mới được thịnh hành ở hạ lưu Sông Trường Giang, Tứ Phần luật dịch ở Quang Trung (Thiểm Tây) dịch sau Thập Tụng 7 năm, đến thời Tùy mới có người hoằng dương, đến đầu nhà Đường do Luật Sư Đạo Tuyên cực lực hoằng dương thành phái luật tông duy nhất ở Trung Quốc, Tăng Kỳ Luật dịch sau Tứ Phần Luật  5 năm được dịch ở Chùa Đạo Tràng tại Kiến Khang (Nam Định) đến đời Lục Triều mới được hoằng dương ở phương Bắc, Ngủ Phần Luật được dịch ở chùa Long Quang tại Kiến Nguyệt, ít ai hoằng dương Giải Thoát Giới Bổn Kinh so với Ngủ Phần Luật trể hơn 100 năm, nội dung của Giải Thoát Giới Bổn Kinh cùng với Thập Tụng Luật tương đồng nên được hoằng dương cùng thời. Hữu Bộ Luật dịch sau Ngủ Phần luật gần 300 năm và sau luật sư Đạo Tuyên. Từ đời Tùy Văn Đế niên hiệu Khai Hoàng thứ 16 đến  Đường Cao Tông niên hiệu Càng Phong thứ 2 ( 596 – 667  TL) khoảng 40 – 50 năm. Lúc này Tứ Phần Luật hưng thịnh vì thế, Ngài Tam Tạng Nghĩa Tịnh tuy thông về Hữu Bộ nhưng đơn độc nên Ngài không phát huy về Hữu Bộ được.
Các bộ luật lớn nói trên đều được truyền bá vào Trung Quốc một cách rộng rãi nhưng đặc biệt có Tứ Phần Luật thuộc Bộ Đàm Vô Đức được xem là thịnh hành nhất. Vào đời Nguyên Ngụy Hiến Văn Đế sự hoằng dương Tứ Phần Luật thứ tự qua các luật sư, Pháp Chánh rồi đến Pháp Thời, Pháp Thông, Đạo Phú, Huệ Quang. Đệ tử của Huệ Quang có Đạo Vân, Đạo Huy… Lần lược đến Đạo Tuyên là Tổ thứ 9 thì sự hoằng truyền Tứ Phần Luật đạt tới chỗ cao tột. Luật Sư  Đạo Tuyên thành tựu sự trước thuật đối với sách luật đến giai đọan mà trước kia chưa từng có, Ngài có công rất lớn trong việc xiển dương giới luật và sớ thích nhiều bộ luật có giá trị nên người sau suy tôn Ngài là Sơ Tổ Luật Tứ Phần ở Trung Quốc. Sau Tổ Đạo Tuyên ( 596 – 667) có Châu Tú ( Tổ thứ hai ) thứ tự nối tiếp có Đạo Hoằng, Tỉnh Cung, Hành Cứ… Tất cả có 21 Vị Tổ truyền xuống đến đời Nhà Nguyên, Luật tông suy vi cho đến cuối Nhà Minh các Bậc hoằng dương luật mới xuất hiện như: Ngài Liên Trì, Ngẫu Ích, Hoằng Tán, Nguyên Hiền, Kiến Nguyệt ( Độc Thể ). Từ Ngài Kiến Nguyệt về sau đời Thanh suốt 210 năm Luật tông không còn người hoằng dương, đến thời cận đại có hai Đại Sư  Hoằng Nhất ( 1880 – 1942 ) và Tứ Hằng ( 1877 – 1958 ) hoằng truyền luật mà thôi.
  1. Giới Luật truyền đến Việt Nam
Theo một số sử liệu cho thấy Phật Giáo Việt Nam vì ảnh hưởng Phật Giáo Đời Minh (Trung Quốc), lúc này cả ba tông: Thiền Tông-Tịnh Độ Tông-Luật Tôn  đều thịnh hành. Riêng về môn Luật, các trước tác về luật Đại Thừa và Tứ Phần Luật của Ngài Vân Thê đều có truyền tới Việt Nam. Phật Giáo Việt Nam đã cho khắc ván và lưu hành các bộ Luật như:
- Sa Di Luật Nghi Yếu Lược của Ngài Vân Thê
- Bồ Tát Giới Sớ Phật Ân (5 quyển)
- Bồ Tát Giới Bổn Tiên Yếu (1 quyển)
- Sa Di Oai Nghi Lục Yếu của Tổ Linh Phong
- Tứ Phần Luật Như Thích (2 quyển)
- Phạm Võng Hiệp Chú (7 quyển)
- Phạm Võng Lược Sơ ù(8 quyển)
-Tứ Phần Danh Nghĩa Tiêu Thích (80 quyển)
- Tỳ Kheo thọ Giới Lục và Tỳ Kheo Ni Thọ Giới (1 quyển)
- Sa Di Luật Yếu Tăng Chú của Tổ Hoằng Tán (2quyển)
Sự truyền thừa Luật Tông tại Việt Nam vì không có tài liệu nghi lại chính xác, nên ở đây chỉ ghi lại một số tác phẩm dịch thuật, chú sớ của các bậc tiền bối để lại về luật như sao:
1. Đại Sư Hương Hải (1625-1725)
   - Giải Sa Di Giới Luật
2. Đại Sư Pháp Chuyên (1726-1798)
- Quy Sơn Cảnh Sách Chú Thích Lược Ký
- Tỳ Ni Sa Di Oai Nghi Cảch Sách Ấn Chú Yếu Lược
- Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết yếu Phát Ấn Âm Chú
- Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú
- Sự Nghĩa Luật Yếu Lược
3. Đại Sư Toàn Nhật (1731-1835)
- Sa Di Oai Nghi Tăng Chú Ngụy Tư Tiểu Nhiên
4. Đại sư Chánh Thành (1872-19490)
- Tứ Phần Như Thích (dịch)
- Bồ Tát Giới Kinh
- Tỳ Kheo Giới Kinh
- Sa Di Sơ ù
- Tỳ Ni Hương Nhũ
5. Đại Sư Bích Liên (1876-1950)
- Quy Sơn Cảnh Sách Dịch Nôm
6. Đại sư Huyền Y Ù(1891-1951)
- Sa Di Luật Diễn Nghĩa
7. Đại Sư Tuệ Tạng (1889-1959)
- Kinh Phạm Võng Giải
- Sa Di Luật
8. Đại Sư Khánh Anh (1895-1961)
- Tại Gia Cư Sĩ Luật
9. Đại Sư Thiện Hòa (1907-1987)
- Giới Đàn Tăng
- Tỳ Kheo Giới Kinh
10. Đại Sư Bữu Chơn (1891-1971)
- Tứ Thanh Tịnh Giới
11.Đại Sư Trí Hải (1906-1976)
- Nghi Thức Thọ Tam Quy
- Sa Di Luật Dịch (2 tập)
12.Đại Sư Hộ Tông(1893-1981)
- Luật Xuất Gia (2 quyển)
13. Đại Sư Trí Thủ(1909-1984)
- Nghi Thức Truyền Giới Tại Gia và Bồ Tát Thập Thiện
- Luật Tỳ Kheo
- Yết Ma Chỉ Nam (dịch) in năm 1991
- Tứ Phần Hiệp Chú (2 quyển)
14. Đại Sư Hành Trụ(1904-1984)
- Sa Di Luật Giải Yếu Lược Tăng Chú (ấn hành 1964)
- Quy Sơn Cảnh Sách
- Phạm Võng Bồt Tát Giới
- Tỳ Kheo Giới Kinh
- Tứ Phần Luật Giới Bổn Như Thích (ấn hành 1964)
15.Đại Sư Giới Nghiêm (1921-1984)
- Luật Tạng PàLi
16.Đại Sư Bình Minh (1924-1988)
- Yết Ma Chỉ Nam (dịch) in năm 1991
17.Đại Sư Thiện Chơn (1914-1992)
- Luật Tứ Phần Hiệp Chú
- Tỳ Ni Hương Nhũ
- Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Ni Lược Ký
18.Đại Sư Đôn Hậu (1905-1992)
- Cách Thức Sám Hối Các Tội Phạm Giới
- Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Ni Sao
19.Đại Sư Huệ Hưng
- Xuất Gia Luật Yếu, do Sư Cô Như Lộc biên tập và xuất bản năm 1984
20.Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm
- Cương Yếu Giới Luật
21.Hòa Thượng Minh Thành
- Giáo Trình Luật Học Cơ Bản (THPGTPHCM ấn hành 1993)
Trên đây là những danh Tăng đã viên tịch, các Ngài đã để lại cho hàng hậu thế chúng ta những bộ luật tạng hết sức có giá trị. Chúng ta là những người kế thừa nên lấy tấm gương xiển dương luật tạng của các Ngài hành trì Luật Tạng một cách cẩn mật, ngõ hầu tiếp nối quý Ngài thắp sáng ngọn đèn luật tạng mãi mãi trường tồn.
Ngoài những vị danh Tăng trên chúng ta còn biết đến một số vị khác đã để lại những tài liệu giảng dạy trong các trường Phật Học hiện nay như:
- Yết Ma Cương Yếu của Hòa Thượng Thích Phước Sơn
- Luật Học (3 tập) của Hòa Thượng Thích Phước Sơn
- Cương Yếu Giới Luật của Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
- Giới Luật Học Cương Yếu của Tuệ Đăng dịch
- Bồ Tát Phạm Võng của Hòa Thượng Thích Trí Quang
- Luật Sa Di, Sa Di Ni của Hòa Thượng Thích Trí Quang
- Phạm Võng Hiệp Chú của Thượng Tọa Thích Minh Thông biên soạn (tài liệu giáo án học tập của Tăng, Ni sinh trường Cao Đẳng PHTPHCM)
- Tứ Phần Luật San Bổ Yết Ma Huyền Ty Sao của Ni Sư Thích Nữ Như Pháp
- Luâït Tứ Phần Tỳ Kheo Ni Giới Bổn Ký của Thích Nữ Thể Thanh dịch
- Tỳ Kheo Ni Giới Bổn Lược Ký của Tỳ Kheo Ni Huyền Huệ dịch
- Tỳ Kheo Ni giới Bổn Sớ Sao Lược Ký của Tỳ Kheo Ni Như Đức.
Trên đây là những bộ luật cũng như những vị Danh Tăng đã góp phần xiển dương Luật Tạng, hầu duy trì và phát triển Phật Giáo nước nhà. Chúng ta là người xuất gia đại diện Tăng Đoàn thay Phật tuyên dương chánh pháp, thì phải giữ gìn tài sản quý báu của Phật và chư Tổ để lại, đồng thời phát huy và ứng dụng vào cuộc sống hằng ngày cho phù hợp với thời đại mới, nhưng vẫn luôn giữ được bản sắc ý chỉ của chư Phật, Tổ cũng như các bậc Tiền Bối đã dầy công tạo dựng nên Luật Tạng này.



II. KHÁI QUÁT VỀ GIỚI LUẬT
  1. Nguyên nhân Phật chế giới.
Giới Luật thực sự chưa có trong những năm tháng đầu tiên, sau khi Phật thành đạo, những vị xuất gia đều là bậc hảo tâm căn khí đặc biệt sâu dày nên chỉ cần vài lời điểm hóa khai thị, thì lập tức dự vào hàng Thánh vị. Mười hai năm đầu các hàng đệ tử của Phật chỉ theo Pháp mà tu hành, trong đó tu thiền định là chính, tu trí huệ là thứ. Giới thuộc về trí huệ, Định Cọng Giới thuộc về Thiền Định, tu hai Pháp ấy mà vẫn ngăn được tội ác để thành tựu được. Như trong Luật Đức Phật Thích Ca đã nói:


“Thiên hộ ư khẩu ngôn
Tự tịnh kỳ chí ý
Thân mạc tác chư ác
Thử tam nghiệp đạo tịnh
Năng đắc như thị hành
Thị đại tiên nhân đạo”

Nghĩa là khéo giữ gìn thân miệng ý, đừng nghĩ bậy, đừng nói bậy, đừng làm bậy, đó là giơiù kinh Đức Thích Tôn. Đến năm thứ 13 đức Thế Tôn bắt đầu chế định Giới Luật, khi các pháp hữu lậu phát sanh trong tăng đoàn các thầy Tỳ kheo dần dà sống xa rời tinh thần giải thoát, bị lôi cuốn vào danh vọng, lợi dưỡng. Giới Luật buộc phải ra đời để làm hàng rào ngăn chặn sự hư đốn trong tăng đoàn, bảo hộ sự thanh tịnh hòa hợp của tăng thân, cũng như giữ gìn bản thể của Tỳ Kheo không cho hư hủy. Mặt khác Đức phật vì ngại tiếng gần xa của người thế tục, sợ họ nhìn thấy niếp sống bê tha “tự tung tự tác”của tăng đoàn mà mất đi chánh tín, hoặc chê bai, hoặc hiềm tỵ, hoặc coi giáo đoàn Phật Giáo không hơn không kém những Giáo Sĩ Bà La Môn tụ hội.
Cho nên sự có mặt của Giới Luật là yếu tố vô cùng cần thiết để thành tựu một thanh tịnh Tỳ Kheo, làm mô phạm cho trời, người và giúp cho hành giả bước đi vững chải trên con đường thoát ly sinh tử. Trước khi chế Giới Đức Thế Tôn luôn luôn nói ra 10 điều lợi ích của việc chế giới:
1. Nhiếp thủ ư tăng: vì kiện toàn tăng già thánh chúng thanh tịnh
2. Linh tăng hoan hỷ: vì tu hành phạm hạnh nên thiện tâm tăng trưởng, khiến được hoan hỷ với nhau
3. Linh tăng an lạc: vì hoan hỷ được an lạc nơi thiền định trong tự tâm
4. Linh vị tín giả tín: kiến người chưa có lòng tin Tam Bảo, thấy chư tăng tu hành phạm hạnh mà sanh lòng tin
5. Dĩ tín giả linh tăng trưởng: đối với người đã tin rồi khiến lòng tin của họ được tăng trưởng
6. Nan điều giả linh điều thuận: người khéo điều phục khiến họ được điều thuận
7.Tàm quý giả đắc an lạc: khiến người biết hổ thẹn được an vui
8. Đoạn hiện tại hữu lậu: vì đoạn hết phiền não ở hiện tại
9. Đoạn vị lai hữu lậu : vì đoạn diệt hết phiền não ở vị lai
10. Linh chánh pháp cữu trụ: vì tu phạm hạnh mà chánh pháp được trường tồn lâu dài
Đây là 10 điều ích lợi (10 cú nghĩa) cho việc chế giới, mỗi khi xảy ra một việc gì Ngài chế ra một giới và kèm theo 10 lợi ích của nó.
Qua đây, ta thấy Đức Phật vì thương chúng sanh mới chế giới chớ không phải chế Giới Luật để bó buộc đệ tử mà là nhằm vào mục đích giúp người xuất gia chơn chánh có môi trường tốt để tu tập và chứng ngộ, đồng thời đem lại sự thanh tịnh và uy tín cho tăng đoàn. Những quy luật này sau khi phật nhập diệt các thánh tăng tụng đọc và kết thành bộ tạng luật, mà ngày nay chúng ta đang nghiêm thọ tu trì .
  1. Định nghĩa Giới Luật
 GIỚI: theo Phạn ngữ là Si La. Tàu phiên âm là Thi La dịch nguyên nghĩa là tập quán, tính cách, đạo đức, nói rộng ra mọi phương diện tập quán tốt hay xấu đều gọi là “Giới”Như tập quán tốt gọi là Thiện Giới (hay thiện luật nghi), tập quán xấu gọi là Aùc Giới (hay ác luật nghi). Nếu hạn cuộc chỉ cho tịnh giới thì giới ở đây gọi là “phòng phi chỉ ác”. Giải thích theo Câu Xá Luận, Giới có các nghĩa như sau: thiện, tánh cách thiện, phẩm chất thiện, đạo đức, thanh lương. Nói rõ hơn Giới là một tính chất có công năng ngăn ngừa sự sai quấy, lầm lỗi nơi ba nghiệp (thân, khẩu, ý) và làm cho thân tâm mát diệu không còn bị dày vò bởi sự nóng bức của mọi phiền não.
- Giới còn có ba nghĩa: tánh giới, già giới và khai giới
   + Tánh giới còn gọi là cựu giới chủ giới hay tánh trọng giới. Nghĩa là bản chất vốn sẳn có trong mọi loài chúng, nếu vi phạm thì bất luận là phật tử tại gia hay không phải là phật tử đều bị tổn hại cả
   + Già giới còn gọi là Tân giới, khách giới, cũng gọi là cơ hiềm giới .Nghĩa là bản chất của nó để ngăn ngừa mọi cơ hiềm của thế gian đối với cá nhân hoặc tập thể phật tử
   + Khai giới là những giới điều được Phật khai cho vì bệnh duyên hoàn cảnh hoặc do tâm lý
- Giải thích theo Kinh Di Giáo: giới còn gọi là “Giải Thoát”hay  “Biệt Giải Thoát” Có nghĩa là người giữ giới nào thì sẽ được lợi ích riêng của giới đó, điều này thể hiện tính độc lập giữa các giới. Tuỳ vào khả năng và hoàn cảnh cụ thể mà mọi người chọn cho mình những “Giới” thích hợp, vì khi họ trì một học xứ nào do Phật chế định thì học xứ ấy có khả năng hành vi bất thiện không cho len lổi vào tâm.
+ Bảo Giải Thoát: Là người tu nhận lãnh giới nào thì đảm bảo chắc chắn được giải thoát nơi giới đó, đảm bảo được tự tại an vui không bị phiền não sai khiến, họ mãi trong u tối. Do vậy nếu giữ nhiều giới thì càng được nhiều giải thoát tự tại và hạnh phúc.
+ Tùy Thuận Giải Thoát: Là giới luật tùy thuận vào cái quả của hai loại giải thoát hữu vi và vô vi.
- Giải thoát theo Tứ Phần Luật San Phiền Bổ Khuyết Sự Sao. Giới có bốn nghĩa khác, là giới pháp, giới thể, giới hạnh và giới tướng.
+ Giới Pháp tức là giới do Đức Phật nói cho Tứ chúng Tỳ Kheo.
+ Giơi Thể nghĩa là thể tánh của giới, giới này có được do người thọ giới là nhờ thực hiện nghi thức tác pháp như pháp, lãnh thọ như pháp.
+ Giới Hạnh nghĩa là lấy từ bi làm nền tảng, không để ác tâm làm tổn hại đến kẻ khác.
+ Giới Tướng tức là tướng mạo của giới pháp biểu hiện bên ngoài một cách cụ thể để làm quy phạm cho sự trì giới.
LUẬT: theo nguyên Phạn ngữ là Vinaya, Tàu phiên âm là Tỳ Nại Da dịch là “Điều Phục” có nghĩa là hạn chế làm cho thuần thục xa lìa tận diệt mọi lỗi lầm tội ác. Đây chính là những điều giới do Đức Thế Tôn chế định, áp dụng cho hàng xuất gia lẫn tại gia phải hành trì tuân thủ, liên quan mật thiết đến mọi hành vi trong nếp sống của người tu học, tức là trong thực tại cuộc sống của người tu hành châm chước đối với thực tế, cụ thể trên mọi nhu yếu mà Phật chế quy tắc. Như hàng đệ tử Phật có những hành vi ác hạnh thì Ngài giáo giới không được trái phạm, nếu trái phạm thì sẽ bị xử lý theo luật định, và từ những ý nghĩa này mà có những ngôn ngữ khác như quy chế nội dung vv… áp dụng cho mọi tổ chức đoàn thể tăng già cũng như tu sĩ.
Đến đây, chúng ta có thể hiểu luật cũng là do Đức Thế Tôn chế, có những điều khoản chi tiết quy định sự xử phạt những vi phạm trong tăng. Như vậy, Giới và Luật tuy có sự khác biệt về mặt tướng trạng, xong trên đại thể nội dung vẫn chung cùng đó là “Phòng phi chỉ ác”.
Tóm lại Giới và Luật là những lời giáo huấn của Phật nhằm mục đích thanh tịnh cá nhân và đoàn thể Phật tử xuất gia cũng như tại gia, để tự thân và tha nhân cùng nhau đi trên con đường giác ngộ một cách an toàn không bị vướng bận bởi tham ái và phiền não của cuộc đời.
  1. Phận Loại Giới Luật:
    1.  Giới Luật Của Phật Tử Tại Gia:
 Người Phật tử sau khi phát tâm quy y Tam Bảo tức đã bước lên nấc thang giải thoát thì việc trước tiên là lãnh giữ năm giới (ngũ giới).
  •  Ngũ Giới: là năm điều ngăn cấm mà Đức Phật chế ra cho người phật tử tại gia để ngăn những tưởng niệm ác, lời nói chẳng phải, hành động bất chánh hại mình hại người. Năm diều ấy là:
1. Không Sát Sanh
2. Không Trộm Cắp
3. Không Tà Dâm
4. Không Nói Dối
5. Không Uống Rượu
Ngũ Giới tuy là tầng lớp thấp của Phật Giới, Song như cất lầu mà chẳng xây móng thì ý muốn xây lầu chỉ là giả tưởng. Vì thế Chư Tổ dạy “Pháp Ngũ Giới là cha lành của ba đời Chư Phật, y Ngũ Giới mà sinh ra thập phương tam thế, tất cả Chư Phật” Qua đó ta cho chúng ta thấy trong hệ thống giới bổn của Phật, Ngũ giới đóng vai trò hết sức quan trọng, Ngũ giới nếu thực hiện tốt thì mới làm cơ sở vững chắc cho giới Sa Di, Giới Tỳ Kheo, Giới Bồ Tát tồn tại trên nền tảng của nó, còn chưa thực hiện tốt Ngũ Giới thì đối với Sa Di, Tỳ Kheo, Bồ Tát giới cũng khó có thể thành lập được. Cho nên Kinh Luật thường nó Giới tại gia là nền tảng cho Giới Sa Di, Giới Tỳ Kheo, Giới Bồ Tát là vậy.Và xét ra trong năm giới này đã chiếm hết bốn giới trọng (tánh giới bất khả hối), nghĩa là dù Phật chẳng chế nhưng khi vi phạm thì điều buộc về tội ác không thể sám hối, còn giới thứ năm thuộc về giá giới. Do đó trong Di Lặc Vấn Kinh có dạy “Nếu ai giữ gìn năm giới này tức đã thực hành được năm sự bố thí vĩ đại tăng trưởng vô lượng công đức, cảm hóa vô lượng chúng sinh, đem lại nguồn an lạc cho muôn loài”
Từ đó ta thấy, nếu ngường trì ngũ giới đến cho triệt để thì chẳng những ngăn ngừa nơi “chỉ ác” mà còn làm đến “hành thiện” vì không những không sát sanh mà còn phải phóng sanh, hộ sanh, không trộm cắp mà còn phải bố thí, không tà hạnh mà còn đem hạnh phúc đến cho người khác, không nói dối mà phải nói lời lợi ích cho người không uống rượu mà còn khuyến khích người khác ra khỏi rượu chè. Năm điều này y cứ trên tâm từ bi, bình đẳng, trên phương diện dứt trừ tội lỗi cá nhân đem lại an vui thật sự cho xã hội mà thành lập. Đức Phật không bắt buộc triệt để tuân theo và cũng không hăm dọa nếu chúng ta không theo, sự giữ giới hoàn toàn do chúng ta tự nguyện, vì một ý nghĩ, một lời nói, một hành động, tốt hay xấu chính nó đã mang một mầm móng thưởng phạt rồi. Nên Phật dạy:
“Tự mình làm cho mình nhiểm ô
Tự mình làm cho mình thanh tịnh
Thanh tịnh hay nhiểm ô
Là do chính mình, chớ không ai khác” 
                                  (PC165)
 
  •   Thập Thiện Giới :        

Luân hồi ba cõi vấn vương
Nguyên nhân nghiệp hoặc là đường khổ đau
Thật vậy, trong vòng biến chuyển vô cùng tận của kiếp sống, tình trạng thay đổi từ sinh đến tử, từ tử đến sinh chẳng khác nào như đợt sóng nhấp nhô trên biển cả. Những con sóng ấy, dù là sóng thần sóng bạc đầu hay là sóng lăn tăn, đều tùy thuộc vào động lực thúc đẩy của tự thân, và ảnh hưởng chi phối đến hoàn cảnh. Từ vô thỉ kiếp đến nay, chúng ta như những cánh buồm bọc gió, lang thang trên biển khổ cuộc đời bị sức cuốn trôi của trào lưu vô minh và ái dục đã tạo thành dòng thác nghiệp, kéo theo bao con thuyền chơi vơi bến bờ sinh tử. Chính vì mà dòng lệ nóng của con ngươiø tuôn chảy thành biển mặn, để lau khô đường lệ nóng, tát cạn đi biển khổ của cuộc, biến cõi nhân gian thành thiên đàng hạnh phúc, chúng ta phải tu tập Thập Thiện Giới (Nghiệp). Đó là chất liệu đặc thù để xây lên lâu đài trí tuệ, là con đường an vui đưa nhân loại đến Thánh Thiện, là nấc thang vững chắc tiến đến đỉnh cao của sự giác ngộ, là cội nguồn của tất cả thế gian, và xuất thế gian. Chính vì tầm quan trọng của Thập Thiện Giới, chúng ta hãy nếm từng hương vị, tìm vào từng giá trị của mười phương pháp, xây dựng thế giới tình thương ngay giữa lòng trần gian đau khổ,  như chúng ta đã biết:
Trong vòng phân đoạn tử sanh
Ra vào ba cõi vạn nghìn khổ đau
Nguyên do ác nghiệp dẫn vào
Hành y thập thiện quả sau an nhàn
Ở đây Thập Thiện bao gồm:
 
- Ba giới thuộc về thân: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm
- Bốn giới thuộc về khẩu là: Không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác và không nói lời phù phiếm.
- Ba giới thuộc về ý: Không tham lam, không sân giận, không tà kiến.
Thập Thiện Nghiệp là 10 nghiệp lành đem lại lợi ích cho mình trong hiện tại cũng như tương lai, là chất liệu để kiến tạo thiên đàng hạnh phúc, và cũng là căn bản của Bồ Đề Niết Bàn. Pháp này Đức Phật nói cho hàng thánh chúng ở Long Cung Ta Kiệt La được chép bằng Phạn Văn. Đời nhà Đường, đồng thời cũng có Ngài Tam Tạng Pháp Sư dịch lấy tên là “ Thiết Hải Long Cung Đại Tạng Kinh”. Đức Phật dạy nếu con người thực hành 10 thiện nghiệp sẽ có những hiệu quả tốt ở hiện tại và  tương lai không giết hại được pháp không bức não, thân ít bịnh trường thọ, không oán thù, thế giới hòa bình… Chúng ta hãy tìm nguồn cảm thông với tất cả mọi loài, bằng hành động không sát sanh chính là chúng ta đã đến ngay thuyền giải thoát bắt đầu nhổ neo từ bến mê xuôi theo dòng nước từ bi tiến đến bờ đại giác.
Thực hành theo tâm từ
Trừ bỏ tâm sát hại
Đại bi thương chúng sanh
Quặn lòng rơi nước mắt.
( Kinh Hiền Ngu)
Nếu mạng sống là thiêng liêng quan trọng, thì vật sở hữu cũng là vấn đề cần thiết cung cấp cho con người sống còn và tồn tại. Vì vậy, không trộm cắp sẽ được pháp bảo tín, giàu có không bị lường gạt. Sẳn lòng bố thí, nhà nhà không cần đóng cửa… Cho nên hàng nho sĩ có câu “ Nhân phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ” chúng ta là phật tử lại đi trộm cắp ư? Còn dâm dục là cái nhân sanh tử luân hồi, là chướng ngại cho hành giả trên lộ trình trở về quê hương giác ngộ. Cho nên Kinh Lăng Nghiêm nói “ Dâm tâm bất trừ trần lao bất khả xuất” Vì thế Phật dạy: Không tà hạnh sống chánh hạnh được người trí khen ngợi, cuộc sống thuần phong mỹ tục. Không nói dối, đâm thọc, thêm bớt thô tục, miệng được thanh tịnh mùi thơm hoa Ưu Bát tỏa ra, nói không sai lầm người người tín cẩn, gia đình bạn bè xóm làng hòa thuận thương kính. Không tham, không sân, không si được tự tại lòng không tổn não không oán hờn, sáng suốt phán đoán nhìn vấn đề đúng thật tướng của nó.
   Thập thiện nghiệp là con đường thăng hoa, là công viên tuyệt đẹp là chìa khóa duy nhất mở cửa cho chúng ta bước vào vườn hoa hạnh phúc, là chất liệu chính để kiến tạo thiên giới tại nhân gian, là đại lộ an vui hướng chúng sanh đến Niết Bàn.
  •   Bát Quan Trai giới
Chúng sanh đa bịnh, phật pháp đa môn, có người vì chức nghiệp, có người vì sợ bó buộc xã hội, gia đình, không thể tự do quyết định phương thức hoạt động cho mình nhắm đến. Do đó Đức Phật mở cánh cửa Bát Quan Trai giới cho những ai muốn gieo trồng thánh nhân xuất thế. Đương nhiên Bát Quan Trai giới chỉ là khởi điểm liểu sanh thoát tử là cái cửa lớn. Nội dung của Bát Quan Trai giới như sau:
  1. Không sát sanh
  2. Không trộm cắp
  3. Không phi phạp hạnh “ không dâm”
  4. Không vọng ngữ
  5. Không uống rượu
  6.  Không đeo tràng hoa hương thơm, không thoa dầu thơm, không ca múa và biểu diển các bộ môn nghệ thuật, không cố đến xem nghe
  7. Không ngồi nằm trên giường lớn cao rộng
  8.  Không ăn phi thời.
 Đây là 8 giới mà người phật tử cần phải giữ gìn trong vòng một ngày một đêm ( 24 giờ) cho thân khẩu ý thanh tịnh.
  • Bồ Tát Giới như trong kinh Phạm Võng nói: “ Bồ tát giới là bản nguyên của chư Phật là căn bản của Bồ Tát là căn bản của đại chúng phật tử”. Người thọ giới Bồ Tát chỉ cần phát Bồ đề tâm là đắc giới, không cần bẩm thọ giới pháp từ nơi thầy. Giới Bồ Tát gồm hai thiên :
  • Mười giới trọng và 48 giới khinh
  • Tam tụ tịnh giới gồm :
  • Nhiếp Luật Nghi giới:  Là những luật nghi ngăn ngừa điều ác như “ Chư ác mạc tát”
  • Nhiếp thiện pháp giới: Tu tập tất cả thiện pháp, vô lượng công đức trang nghiêm, như câu “ Chúng thiện phụng hành”
  • Nhiêu ích hữu tình giới: Làm lợi lạc cho hết thải chúng sanh dùng đức tánh từ, bi, hỷ xả cứu độ chúng sanh không nhàm mõi.
   Giới Bồ Tát sở dĩ gọi là không giới vì được thông dung cho cả phật tử tại gia và xuất gia, giới này lấy chánh danh phật tánh làm chủng tử cũng là giới mà chư phật thuở quá khứ đã lần lược truyền trao cho nhau không phải Đức Phật Thích Ca mới định sau khi thành đạo. Cho nên tất cả chư Phật đời quá khứ đến hiện tại điều do giới này mà thành tựu.
b) Giới Luật của người xuất gia
     1. Sa Di:
     Giới Sa Di dành cho những người, sau khi xuất gia được Thầy cho phép lãnh thọ 10 giới, gồm có:
     -Năm giới căn bản                  
     6- Giới không đeo tràng hoa thơm, không xoa dầu thơm vào mình
     7- Giới không ca múa xướng, cố đi xem nghe
     8- Giới không được ngồi nằm trên giường cao rộng lớn
     9- Giới không ăn phi thời
10- Giới không được cầm giữ vàng bạc đá của quý          
Mười giới trên đây theo kinh luận thì bốn giới trước là “tánh giới” (thật ác) Giới rượu là cửa các việc ác. Năm giới sau là “nhân duyên” kềm chế không cho buông lung. Đây là những giới điều mà người phật tử xuất gia cần phải hành trì, vì đó là hạnh tốt của đạo xuất thế.
2.Thức xoa ma na ni:
Đây là giới điều Đức Phật chế cho người nữ xuất gia trước khi được dự vào hàng ngũ Tỳ Kheo Ni. Người nữ xuất gia nếu trước không phải trải qua hai giai đoạn Sa Di và Thức Xoa Ma Na Ni thì không thể tiến vào địa vị Tỳ Kheo Ni. Thức xoa gồm:
     Bốn Giới căn bản
     Sáu Pháp
292 Pháp Hành
3. Tỳ Kheo giới (còn gọi là biệt giới)
Đức Thế Tôn khi còn tại thế Ngài tùy căn cơ, tùy hoàn cảnh mà chế ra nhiều loại giới luật để răn dạy đệ tử hóa độ chúng sanhh. Trong đó giới mà Ngài chế đặt cho chúng Tỳ Kheo nói rộng thì vô lượng, còn phần trung bình thì có 3.000 oai nghi, 80 tế hạnh, còn phần tóm lược thì Tỳ Kheo có 250 giới, Tỳ Kheo Ni có 348 giới. Giới của Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni tuy giới điều có số khác nhau, nhưng vẫn chia ra làm Ngũ Thiên - Thất Tụ
  • Tỳ Kheo 250 giới
         - Ngũ Thiên  gồm có:
          + Ba La Di: 4 giới      
          +Tăng Tàng: 13 giới
          + Ba Dật Đề         Ni Tát Kỳ Ba Dật Đề  
                                         Ba Dật Đề                     120 giới
          + Đề Xá Ni: 4 giới
          + Đột Kiết La: 109 giới                 Nhị bất định pháp
                                                                   100 pháp học chúng
                                                                  7 pháp diệt tránh
          - Thất Tụ
  • Ba La Di
  • Tăng Tàn
  • Thâu Lan Giá
  • Ba Dật Đề
  • Đề Xá Ni
  • Aùc Tác
  • Aùc Thuyết
  • Phần Tỳ Kheo Ni :348 giới
- Ngũ Thiên:
  Ba La Di: 8 giới
 Tăng Già Bà Thi Sa: 17 giới
  Ba Dật Đề                     Ni Tát Kỳ Ba Dật Đề 30 giới
                                          Ba Dật Đề 178 giới
 Ba La Đề Đề Xá Ni :8 giới

 Đột Cát La 107 giới                      Học chúng:100 giới
                                                         Diệt Tránh 7 giới
 - Thất Tụ gồm :
Ba La Di
Tăng Già Bà Thi Sa
Ni Tát Kỳ Ba Dật Đề
Ba Dật Đề
Ba La Đề Đề  Xá Ni
Học chúng
Diệt tránh
Trên đây đã trình bày tóm lược về phần giới bổn Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni ta thấy những giới điều này nhằm bảo trì pháp thân huệ mạng, tạo cho vị Tỳ Kheo,Tỳ Kheo Ni có đầy đủ đạo hạnh, dung nghi đoan chánh “ Đường đường tăng tướng dung mạo khả quan” Nhằm giúp cho vị Tỳ Kheo an trú một cách vững vàng trong lộ trình giải thoát của mình.
4. Nội Dung Của Giới Luật
a. Thể của giới
   Tỳ Ni tạng trụ Phật pháp thế thế trường tồn,  Giới Luật nghiêm trì, tồng lâm thời thời hưng thịnh. Giáo pháp siêu việt là thực tiển của Đức Phật được sáng tỏa có giá trị thiết thực trong cuộc sống hay được phổ cập rộng rãi trong xã hội loài người, tất cả điều phụ thuộc vào tư cách nói chung, từ hình thức đến tâm linh của người tu sĩ, mà nhất là sứ giả Như Lai tư cách ấy thể hiện bằng Giới Luật nghiêm trì là vấn đề trọng yếu quyết định vận mạng của phật pháp trong mọi thời đại và mọi nơi. Nói đến Giới khiến ta liên tưởng đến bản thể thanh tịnh hòa hợp sáng suốt, chính hai yếu tố này giúp ta thanh lọc, hóa giải tư tưởng hành vi bất thiện đem lại an vui cho mình và người, điều hòa sinh hoạt tập thể giữ cho giáo đoàn một màu thanh tịnh hòa hợp, khiến cho người thế tục kính tin ái mộ.
Giá trị tồn tại của một tôn giáo không chỉ được thẩm định ở một giáo thuyết tư tưởng của một tôn giáo mà còn được thẩm định vào phương pháp sống của tín đồ thuộc tôn giáo đó. Đạo Phật tồn tại phát triển trên 25 thế kỷ qua là nhờ vào sự nghiêm trì Giới Luật, sống thiểu dục tri túc của chư Tổ các Ngài vận dụng năng lực của giới chế ngự phiền não làm thân tâm thanh tịnh. Một khi đạt đến tự tại an lạc các Ngài tiếp cận với đời hòa mình vào xã hội tùy duyên hóa độ làm đẹp đạo tốt đời. Các Ngài luôn:
       “Tinh khiết như hoa sen
        Rạng ngời như bắc đẩu
Các Ngài là nơi nương náo vững chắc của chư thiên và loài người. Ngày nay, đời sống tăng ni khác hơn thời Đức Phật còn tại thế, về việc ăn mặc không phải đi khất thực hằng ngày mà thí chủ đến cúng dường, chúng ta muốn ăn gì tùy theo sở thích mà nấu nướng. Từ đó vọng tưởng phát sanh đòi hỏi chọn lựa đủ thứ thì trong khi ăn khó có được sự thanh tịnh, lại còn mất quá nhiều thời gian trong việc ăn uống dẫn đến buông lung quên mất mục đích của người xuất gia coi việc “ Sanh tử là sự đại”. Vì biết trước các tệ nạn có thể xảy ra,  nên phật chế định ra giới pháp. Chỉ có giới pháp mới là trụ xứ an ổn nhất, là hạt giống quý báu để gieo vào tâm thức và uốn nắn những hành giả có trí đức thành phạm hạnh thanh tịnh hài hòa. Nhà Phật học Nhật Bản Haji MaNaKa Mu Ra viết: “Một trong những đặc sắc nổi bậc của tư tưởng Phật Giáo là một nếp sống hài hòa và thiên nhiên, một nếp sống an lạc trong một cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp, thanh tịnh đầy thẩm mỹ và đạo vị”
b-Tướng của giới hay phương tiện tịnh
Dựa trên nguyên tắc tổng quát, Đức Phật chế giới theo từng cấp bậc khác nhau. Bao gồm các giới điều Tỳ Kheo 250 giới  Tỳ Kheo Ni 348 giới, Sa Di 10 giới, Bồ Tát 58 gới. Giới Luật tuy có nhiều thứ bậc, nhưng chung quy có một phương tiện căn bản, có thể áp dụng cho mọi căn cơ đó là không ngoài việc nghiêm trì Giới Luật. Người hành trì Giới Luật muốn đạt đến kết quả tốt thì việc đầu tiên là phải học thông suốt Giới Luật và cần phải biết đại lược vấn đề trong Giới Luật , đó là :
* Danh, Chủng, Tánh, Tướng
- Danh: là tên trong 348 giới mỗi điều có tên khác như giới bất sát, bất đạo …
- Chủng: có nghĩa là chủng loại hay nhóm nào trong Ngũ Thiên. Như Ba La Di hay Ba Dật Đề…
- Tánh: như những giới thuộc về tánh tội thì dù là người tu hay không tu khi phạm đều có tội, như giới bất sát, bất đạo
- Tướng: Như làm điều ác phạm giới tướng
Đây là những điều căn bản người trì giới cần phải biết để khi phạm tội người ấy phải biết giới đó tên gì thuộc chủng loại nào, thuộc tánh hay tướng để mình biết cách trị phạt như thế nào cho được thanh tịnh
*Khai, Giá, Trì, Phạm
Giới Luật Đức Phật chế ra không phải cứng ngắt, cục bộ … mà ở đây người giữ gìn giới pháp, phải biết rõ pháp nào khai, giá, trì, phạm để hành trì cho phù hợp với từng thời gian, quốc độ, thời đại …
- Khai: mở, làm cho. Thí dụ như giới cấm uống rượu nhưng vì có bệnh phải dùng đến rượu ngâm thuốc uống để trị bệnh thì vị này trước bạch với chúng tăng rồi mới được phép uống một thời gian nào đó thì không phạm.
-Giá: tức ngăn cấm không cho làm, những giới luật cấm  không cho làm nhưng cố làm là phạm giới. Những giới không cho phép khai mà tự ý khai là trái phạm .
- Trì : Là giữ gìn, người phật tử thọ giới rồi phải giữ gìn thanh tịnh các giới điều mình đã thọ không cho sai phạm.
- Phạm: Là vi phạm. Thọ giới mà không giữ gìn, những điều mình thọ gọi là vi phạm. Vậy khi đã phát nguyện thọ lãnh giới luật rồi thì phải trì. Nếu tâm ô nhiễm mà khai thì phạm, nhưng với tâm từ bi vì lợi ích chung có thể là không phạm.
 * Chỉ trì tác phạm và chỉ phạm tác trì
- Chỉ trì: Ngăn dứt các điều ác không làm là “trì” còn “tác phạm” nghĩa là những điều giới cấm không cho làm là “phạm”
- Tác trì: Đối lại, các điều thiện cần phải làm nếu chúng ta làm là trì, nhưng nếu gặp việc thiện mà ta không làm tức là phạm.
Qua đây chúng ta thấy “Tác trì” của Luật khác với “tác trì” của giới, vị tỳ kheo cần phải thông giới luật, cả nguyên do nào Phật chế giới này, giới thuộc loại gì, có được khai không? Vì có hiểu thông mới thực hành đúng, đồng thời linh hoạt trong mọi hoàn cảnh mà không gọi là phạm giới.
Như chúng ta đã thấy trong 348 giới của tỳ kheo ni thật sự ngày nay những điều không còn phù hợp đối với điều kiện phương tiện ở Việt Nam. Nếu ta cứ lập đi lập lại những giới điều không còn phù hợp với thời đại này, thì không đem lại lợi ích thiết thực còn làm cho người sau thắc mắc, nghi ngờ, không có sự “tuân thủ” hành trì một cách nghiêm mật. Ví dụ như giới 159 : đi xe.
Duyên khởi: Phật ở nước Xá Vệ, vườn Cấp Cô Độc, Lục Quần Tỳ Kheo đi xe trên đường, cư sĩ thấy chê bai là: “giống dâm nữ, tặc nữ” các Tỳ Kheo khác nghe, quở trách Lục Quần rồi Tỳ Kheo bạch Phật, Phật chế giới. Chế giới xong, các Tỳ Kheo Ni tuổi già gầy yếu, lực suy sức giảm, không thể đi từ nơi này đến nơi khác, hoặc gặp nạn… Phật cho phép đi xe trong những trường hợp ấy.
Trong thời Đức Phật tại thế, chúng ta thấy đi xe là phương tiện cao nhất, xe do sức người, sức vật kéo vì lòng từ bi nên Phật không cho Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni đi xe. Còn ngày nay phương tiện xe cộ thật đa dạng máy bay, tàu hỏa, xe gắn máy lớn nhỏ đủ loại. Nếu chúng ta không dùng những phương tiện ấy đi lại, cứ đi bộ từ Nam ra Bắc thì thử hỏi sức khỏe có cho phép ta đi đến nơi hay không? Còn về việc làm phật sự, các bậc tôn túc của chúng ta cứ đi bộ như thế chắc hẳn công việc phật sự sẽ bị đình trệ. Việc đi xe cộ ở nước ta Phật tử không chê trách không mất tín tâm, có chăng là họ chỉ chê trách những vị nào đi xe phân phối cao, xe thật sang, thật đắt tiền. Chạy một cách mất oai nghi, mất trật tự giao thông gây ra tai nạn. Qua những hành động thô xấu đó, họ không chê trách về phương tiện di chuyển mà họ chỉ đánh giá về nhân cách, tác phong đạo đức của vị tu sĩ. Từ đó họ dần mất đi niềm tin với chúng ta hay nói một cách rõ hơn là mất niềm tin nơi Tam Bảo. Trong luật Ngũ Phần Phật có dạy rõ: “ Tuy là điều giới ta chế nhưng phương khác chẳng cho là thanh tịnh đều chẳng nên dùng. Tuy chẳng phải đều ta chế nhưng phương khác cần phải làm thì chẳng được chẳng làm” Qua những lời Đức Phật dạy trong khi kiết giới cho thấy mục đích Ngài chế giới là để người hành giới đạt đến an lạc giải thoát, tự lợi lợi tha, thành tựu đạo quả. Mặc dù có một vài giới điều không còn phù hợp với quốc độ, với xã hội ngày nay, nhưng tất cả những điều còn lại khác, luôn là khuôn vàng thước ngọc mà người xuất gia chúng ta cần phải có thời gian nghiên cứu học tập, nên biết pháp nào nên khai mở, để hành trì giới luật một cách nghiêm túc khéo léo, linh hoạt, ứng dụng những giới điều không còn phù hợp cho thành phù hợp mà không đi sai ba yếu tố chính :
  1. Trở ngăn thánh đạo
  2. Sự cơ hiềm của người thế tục
  3. Aûnh hưởng Tăng thân.
c. Dụng của Giới Luật
 Mục đích Đức Phật kiết giới là để người hành trì giới đạt đến an lạc giải thoát, nhưng giải thoát như thế nào ? tự mình giải thoát hay cùng người giải thoát. Cho nên Giới Luật Phật chế được chia ra làm hai:
  1.   Giới luật tiểu thừa: (còn gọi là giới của Thanh Văn)
Gồm bảy chúng : Ưu bà tắc, Ưu bà di, Sa di, Sa di ni, Thức xoa ma na ni, Tỳ Kheo , Tỳ Kheo Ni). Hành giả chỉ cần ngăn dứt nghiệp ác nhưng không tích cực tu thiện, giới này chỉ đặt nặng về giới tướng nhưng không đặt nặng về giới tánh, lo cho phần mình không lỗi là đủ mà không thích mở rộng giúp ích mọi người đến chỗ an lạc hạnh phúc.
  1. Giới Luật Đại Thừa (còn gọi là giới của Bồ tát)
Người hành theo giới luật này không những tích cực ngăn ác mà còn tích cực hành thiện, đặt nặng vấn đề giới tánh, nội quy sinh hoạt rộng rãi, giới này không lấy sự giữ mình, lợi người là đủ mà còn hoạt động nhiều phương pháp thiện xảo, trí tuệ, đem mình và chúng sanh cùng thoát khỏi sông mê biển khổ để đến cảnh hoàn toàn an vui tự tại. Vì thế mà giới Bồ Tát này bao gồm cả Tam Tụ Tịnh Giới, Nhiếp Luật Nghi Giới, Nhiếp Thiện Pháp Giới, Nhiêu Ích Hữu Tình Giới. Vì thế mà trong Giới Luật Cương Yếu Của Tuệ Đăng dịch có câu : “Tất cả Chư Phật trong mười phương ba đời đều thọ trì giới Bồ Tát nên thành Phật. Giới Bồ Tát là cái noi dưỡng dục tam thế chư Phật”. Đạo Phật được gọi là đạo từ bi và trí tuệ. Tỳ Kheo, đệ tử Phật thay phật hoằng hóa độ sanh chẳng lẽ chỉ lo tự lợi mà không nghĩ đến lợi tha, dù rằng là giới Tỳ Kheo nhưng cần phải học hạnh Bồ tát phát tâm rộng lớn, cứu giúp chúng sanh thì tiểu thừa cũng thành đại thừa, trong Sa Di Luật Giải của Ngài Thích Hành Trụ nói: “Bản ý của Phật chế ra Giới Tỳ Kheo không phải tự trì tự lợi. Vì Ngài tùy cơ phương tiện dìu dắt kẻ sơ tâm, khiến những người ích năng lực không chịu hoạt động, vừa với trình độ của họ tu, chính đó là pháp đại thừa của phật mà người tiểu trí phát tâm nhỏ thấy pháp tiểu thừa của mình , chứ Bồ Tát nhìn vào giới ấy vẫn là đại thừa, nên Bồ Tát xuất gia cũng thọ Tỳ Kheo để giữ gìn Tăng Bảo hóa độ chúng sanh”.
Tâm hạnh Bồ Tát lúc nào cũng muốn cho tất cả muôn loài đều được giác ngộ giải thoát, nên các ngài dùng mọi hình tướng, mọi phương tiện ứng hiện, bất chấp hình tướng để hoàn thành mục đích cao cả của mình. Các vị ấy sống trong cõi Ta Bà mà tâm luôn thanh tịnh, thấy rõ thật tướng của tất cả các pháp thấy tất cả chúng sinh đều có phật tánh. Như trong kinh Pháp Hoa phẩm thường bất khinh, Ngài Thường Bất Khinh lễ lại xưng tán khen ngợi từng người “Tôi rất kính quý các ngài, chẳng dám khinh mạn, vì sao ? Vì quý ngài đều tu hành đạo Bồ tát sẽ đặng làm Phật. Dù bị mắng nhiếc là vô trí, bị ném ngói đá, Ngài vẫn vui vẻ không chúc sân giận. Vì Ngài nghĩ tất cả đều là Phật ở tương lai nên Ngài một mực tôn trọng không dám khinh mạn. Trên đây là những công hạnh của Bồ Tát nghiêm trì tịnh giới dấn thân vào đời, làm lợi lạc cho đời qua nhiều hình. Hàng Tỳ Kheo muốn tu tập theo hạnh Bồ Tát không phải là chuyện dễ. Cần phải có một thời gian tu học lâu dài, tự bản thân hiểu biết các pháp một cách chơn chánh, nghiêm trì tịnh giới phát tâm rộng lớn, thành tựu tứ vô lượng tâm mới có thể thực hành hạnh này.
 
III.  NIỀM AN LẠC TRONG SỰ HÀNH TRÌ GIỚI LUẬT
1.Hành trì giới luật là niềm an lạc thánh thiện hoá của người con Phật.
Hiện tại chúng ta là những người xuất gia muốn giải thoát cho bản thân và lợi ích cho người khác thì cần phải học giới và trì giới. Vì một Tỳ Kheo,Tỳ Kheo Ni  trang nghiêm Giới Luật là mảnh đất tốt để tăng trưởng thiện pháp, là nền tảng để tiến bộ tâm linh, là nơi an ổn cho thế gian nương nhờ, là thành viên tích cực cho đạo pháp hưng thạnh. Nên trong Kinh Hoa Nghiêm Phật dạy “Người vâng giữ Giới Luật thực hành phép lục hòa sẽ khéo lãnh đạo và đều hòa đại chúng, làm cho Tam Bảo không đoạn diệt, chánh pháp được cữu trụ ở thế gian, vì giới là căn bản của vô Thượng Bồ Đề”. Nếu chúng ta hủy phạm giới pháp ngay đời nay không được người cung kính, mà đời sau còn phải đọa lạc vào đường ác, nên trong Kinh Tát Giá Ni Kiền Phật dạy : “Nếu không trì giới thì đời này thân dả can đầy gẻ lác còn không được thay, huống gì lại được thân vô lượng công đức”. Nói khác hơn là giữ làm sao không cho sắc đẹp, tiếng hay lai động tâm hồn, phải luôn hành trì thế nào cho thân hành, khẩu hành, ý hành được thanh tịnh, để trợ duyên cho hành giả có đời sống thánh hạnh, có như thế mới giải thoát chúng ta ra khởi sào huyệt tội lỗi và căn cứ địa của đời sống bất thiện .
Chỉ có Giới Luật mới tạo nên đức hạnh của người xuất gia, mới xây dựng được sứ giả Như Lai thành chiến sĩ trên mặt trận đạo đức, trong Kinh Phạm Võng Hiệp Chú nói: “Giới là hàng rào là bờ đê là thành quách ngăn giữ bọn quân phi pháp làm cho ba nghiệp thanh tịnh là nơi an trú của tất cả pháp lành”. Do đó người chánh hạnh phải có lòng hổ thẹn hộ trì các căn, khép mình trong khuôn khổ luật nghi, ví như người nương phao nổi để qua biển lớn. Chúng ta những người thay Phật, giáo hóa chúng sanh thì phải luôn thu thúc giới hạnh và thanh tịnh chỉ một ngày vẫn cao quý sống 100 năm mà buông lung phá giới và vọng động … Bởi Giới Luật của Phật Giáo là quy luật luân lý đạo đức của nhân sinh là chuẩn tắc của con người, Giới pháp của Như Lai đào tạo con người từ nhân cách xấu chuyển hóa thành một nhân cách tốt trong xã hội, và đào tạo mẫu người chuẩn mực đầy đủ đức hạnh :
“Mùi hương của các loài hoa, dù hoa Chiên Đàn hay Mạc hoa Mạc Lỵ đều không thể bay ngược gió, chỉ có mùi hương đức hạnh của người chân chánh tuy ngược gió vẫn bay khắp muôn phương
Giới Luật là dòng nước sẳn sàng dập tắt những ngọn lửa tham ái vàsân hận, giá trị của sự tôn kính là do Giới Luật, nếu không kiểm soát được mình thì sẽ có hành động sai lầm, nó mang màu sắc hết sức trang nghiêm pha chúc từ bi hiền hoà. Người xuất gia lấy Giới Luật làm đúng đắn, khuôn mẫu nhưng tự do tức vui với cái vui của đạo, định hướng cho ta đi đúng đắn nên nói “nơi nào có Giới Luật nơi đó có chánh pháp” không có Giới Luật không xứng đáng là bậc xuất gia chân chánh, không xứng đáng là bậc chúng chung tôn. Kinh Niết Bàn :“Người không hộ trì Giới Luật làm sao mà hộ trì chánh pháp”. Đó là điều hết sức quan trọng đối với đoàn thể tăng già, trong đoàn thể thông thường mỗi người có một quan điểm, lập trường riêng và  một cái nhìn khác nhau, để đi đến thống nhất, quả là một điều khó, thì Giới Luật đưa đến sự nhất trí, hàm ý, sự kính trọng hoà hợp, khép mình sống trong kỷ luật đó là phạm hạnh quý nhất của người xuất gia, khép mình ở đây không có nghĩa là trong bốn bức tường mà là sự nhìn lại cái sai quấy của mình, điều nên và không nên để trên bước đường tu thấy được tâm của mình. Đạo Phật là đi ngược dòng trên sông sanh tử, như hai dòng nước nên nói “Đạo và đời không tách rời nhau” trong cuộc đời chúng ta nghĩ về cuộc sống thác loạn, chạy đua theo vật chất, luôn thay đổi hướng tới cái mới, trình độ văn minh cao, ở đằng sau hằng loạt người bất hạnh, nghèo khó, muốn thoát khỏi văn minh đó. Còn chúng ta một hành giả trên đường tìm đạo hướng về nội tâm, tìm con người thật của chính mình để làm lợi  ích cho mình và người, thì việc giữ giới không phải là đè nặng tâm linh một cách mái móc mà là một nếp sống lợi ích, trên hành trình giải thoát mà ta cần tiến tới, tuy giới rất quan trọng cho người xuất gia, nhất là thời nay Giáo  Hội có nhiều hướng đào tạo tăng tài, mở rộng tầm nhìn để song song với việc hành đạo, thì việc học các môn ngoại điển xãû hội không thể tránh khỏi sự ngoại giao tiếp xúc con người ngoài xả hội, qui luật của thiền gia giờ giấc qui củ thì sự tiếp giáp tư tưởng do ảnh hưởng của bên ngoài cũng nên uyển chuyển theo từng thời từng lúc và tuỳ nơi để công việc của mình đạt đến kết quả tốt mà không mất đi giá trị của giới luật.
 Tuy nhiên việc giữ được giới hay không còn tuỳ thuộc vào mỗi ý thức của từng người, như đầu óc ta bảy mươi đến tám mươi phần trăm dành cho kiến thức thế gian thì một vài phần trăm còn lại là phật pháp như vậy quả là quá ích để nói về tâm định, dễ đi đến tâm ý buông lung dẫn đến coi thường Giới Luật, ngược lai sống trong tịch tĩnh của định, tuy không nghiêm trì Giới Luật mà trang nghiêm uy đức, nên việc phạm hay không phạm do bản tánh của người đó. Việc giữ giới phải được phát xuất từ đáy lòng một cách tôn kính tự nguyện, tự giác chứ không phải là sự bắt buộc, người giữ giới tự nguyện không phải là người chấp giới, bởi không có kẻ thử giữ hay không giữ.
Người giữ giới chân chánh thì tâm luôn luôn hoan hỷ, an lạc bởi họ đã vượt qua ba lỗi về thân, khẩu, ý, đó là đều chắc chắn, những ai biết nguồn vui do quy luật bày tỏ mới biết được cách vượt qua quy luật, không phải là đối với họ những dây buộc ràng của quy luật đã thôi tồn tại, nhưng đối với họ những dây buộc ràng ấy có hình thức của sự tự do hoá thân, rồi tâm hồn tự do vui vẻ chấp nhận các dây liên kết chớ không tìm cách vượt thoát dây nào hết, bởi vì trong các dây liên kết ấy nó cảm thấy biểu lộ một tinh lực cô hạn mà nguồn vui là ở trong sự sinh hoá. Thật vậy, ở đâu không có sự hạn chế thì ở đó có sự điên cuồng của sự sa đoạ chế ngự, tâm hồn không còn tự do nữa, ở đó toàn là tâm hồn đau khổ, khi ta để cho cám dỗ xúi dục lìa bỏ phục dịch cho quy luật, giống như đứa trẻ không còn được người mẹ ôm giữ trong vòng tay, thật đáng sợ nếu không có sư dẫn dắt của cha mẹ cho ta tập đi thì ta sẽ bị té một cách đau đớn, điều tất nhiên là ta sẽ đứng dậy trong Giới Luật bằng cách Sám Hối là nhìn ra lỗi của mình xây dựng lại cái mới, vì: Giới Luật mở ra nâng đỡ khi ta phạm lỗi.
 Phép Sám Hối của nhà phật rất cỡi mở phóng khoáng, mở ra một lối đi cho người phạm lỗi, nhất là biết nhìn lại nhận ra lỗi sai quấy của mình, như vậy trong lòng mới thật an vui, chứ không phải sám hối là một phép tắc giới điều, thực hiện như một quy tắc thuần thành, để rồi đọng trong lòng viên sạn sân hận, phiền não, vì vậy cả cuộc đời tên một cuộc sống dài không thể tránh khởi lỗi lầm, nếu cứ để tâm vào lỗi lầm, thì ta sẽ cảm thấy căng thẳng, luôn luôn lo nghĩ và sợ sệt thì quả thật chẳng bình an chúc nào. Có Giới Luật thì phải có sám hối, cũng như chúng sinh đau khổ thì có phật pháp diệt khổ, đối với người chân chánh thì không giữ Giới Luật mà vẫn đầy đủ oai nghi tế hạnh, như thế cũng đủ biết Giới Luật là hàng rào ngăn đỡ cho người sa ngã, làm chuẩn mực cho người tu hành.
Giới Luật là một sự chỉ đạo phục tùng quan trọng trong tăng già, chấn chỉnh cho ngay thẳng, nhất là ngày nay phật giáo phát triển, hoà nhập với cộng đồng trên thế giới, với phương châm “đạo pháp dân tộc”. Để giữ gìn bản chất cho người xuất gia thì Giới Luật luôn là người bạn tốt đứng cạnh nhắc nhở, không nên xem Giới Luật là cái gì bức bách khuôn khổ, hay kỷ luật sắt, Giáo hội hưng thạnh là nhờ ở mỗi tăng ni giữ gìn giới luật, có tư cách kỷ luật mới hình thành đoàn thể tăng già vững chắc, cũng như đất nước có giàu mạnh là nhờ ở mỗi cá nhân trong gia đình, và mỗi gia đình là một xã hội thu nhỏ, trong xã hội lớn, sự hình thành như thế thì Giới Luật không thể thiếu trong mỗi người đêï tử phật nói chung và tăng già nói riêng.
2. Sự Hành Trì Giới Luật Là Yếu Tố Tu Dưỡng Giới Thân Huệ Mạng.
Giới Luật được xem như nền tảng đạo đức, hay nói rõ hơn Giới Luật là nền tảng giáo dục của Phật Giáo, là yếu tố tu dưỡng giới thân huệ mạng. Ở gốc độ chuyên sâu Giới Luật có thể giúp hành giả trở thành người có nhân cách, một con người có thể hoàn bị về tư tưởng và hành vi, là một con người đúng đắn có thể làm mô phạm cho người khác hiểu biết và học hỏi theo .
Người giữ giới luật trang nghiêm như đoá sen sống giữa bùn nhơ, nhưng vẫn thanh khiết, có giữ giới thì ta mới thanh lọc bảo trì đức hạnh cho mình trên bước đường hành đạo, có giữ giới giúp ta ngăn ngừa được những điều xấu xa tội lỗi, đồng thời cũng đưa ta ra khởi mảnh lưới của sắc trần. Đức Phật dạy: “địa vị và giá trị của con người không phải xuất thân từ giai cấp hay những luận thuyết biện tài, mà giá trị của sự tôn kính là do sự nổ lực chuyên cần làm cho mình trở nên trong sạch qua con đường trau dồi giới hạnh.
Việc chính yếu của người tu hành là nhìn lại thân và tâm, thế nhưng trong suốt cuộc đời có người chẳng chịu khó nhìn lại, chính niệm trong hành động, ngôn ngữ, cứ mặc tình buông lung gây biết bao tội lỗi, làm cho người chê cười, chỉ có hành trì giới mới cho ta có được cuộc sống cao thượng. Một người không biết kiểm soát được chính mình, thì thường hay gây ra điều sai quấy, cho nên Đức Phật dạy : “Người phật tử khi đi phải biết mình đi, khi nói phải biết mình nói, khi nghĩ phải biết mình nghĩ, có ý thức với mọi hành động của mình thì mới tiến tu đạo nghiệp được”. Chính vì thế mà chúng ta cần phải nghiêm trì Giới Luật, vì Giới Luật là pháp môn làm sống dậy đạo đức của phật giáo. Giới Luật còn là Phật Pháp còn, đó là truyền thống của ba đời chư phật, nơi nào có Giới Luật nơi đó có chánh pháp, người xuất gia của chúng ta nên lấy việc hành trì Giới Luật là điều trọng yếu, vì Giới Luật có thể bảo hộ cho ta hình tướng của người tu sĩ  “Đầu tròn áo vuông”. Chúng ta là người xuất gia dù ở lứa tuổi nào đi nữa nếu không chuyên tâm hành trì giới, phẩm hạnh giới đức không có, thì sẽ mất giá trị, không xứng đáng là bậc xuất gia chơn chánh và cũng không xứng đáng là bậc chúng trung tôn .
Vì vậy, chúng ta phải hết sức chuyên tâm nghiêm trì Giới Luật với tinh thần tự nguyện, xem đó là điều kiện tiến tu cho mình. Trong Kinh Niết Bàn Đức Phật nói: “Người không hộ trì giới làm sao thấy được phật tánh, nhân thấy được phật tánh mới thấy được giác trí”. Tất cả chúng sanh điøều có phật tánh, nhưng phải nhờ trì giới sau đó phật tánh mới hiển lộ, vì vậy mỗi người hãy trở về với con người thật của chính mình bằng cách nghiêm trì gới luật, có Giới Luật thì giới thân huệ mạng mới được trưỡng dưỡng từ đời này sang đời khác, chúng ta nên ý thức rằng nghiêm trì Giới Luật không phải là sự đè nặng về tâm linh thể xác của mình, mà là một nếp sống lành mạnh, giản dị, hướng thượng, chói sáng đạo đức, trí tuệ, một nếp sống lợi ích trên hành trình tiến đến giải thoát mà chúng ta cần đạt được. Chúng ta nên biết rằng: Người xuất gia thà bỏ thân mạng chứ không bao giờ huỷ phạm giới pháp. Nhất là hàng ngũ xuất gia trẻ của chúng ta trong cuộc sống hiện tại phải tinh tấn giữ giới pháp, cố xoay hướng đổi chiều, gầy dựng hành vi chơn chánh cao đẹp bằng những giới điều mà Đức Phật chế định là phải kính quý như tròng con mắt của mình, phải thúc liễm thân tâm oai nghi đỉnh đạt, làm hết thảy mọi điều lành, trách xa mọi điều ác … Có như vậy, mới không gây sự cơ hiềm cho người thế tục, khiến cho họ có lòng tin nơi Tam Bảo.
3. Giới Luật Là Nền Tảng Của Sự An Lạc Giải Thoát.
Chính nhờ vào sự hành trì Giới Luật mà hành giả đoạn trừ được tất cả các ác bất thiện, tâm không còn sợ hãi không bị phạm vào những lỗi nhỏ nhặt, trạng thái tâm lý của người tu tập ổn định và không hối hận, tâm được hân hoan, nhờ tâm hân hoan đưa đến hoan hỷ, nhờ tâm hoan hỷ thân được khinh an khi tâm có trạng thái nhẹ nhàng thoải mái thì trong cuộc sống hằng ngày ta cảm thấy không còn phiền muộn khổ đau. Từ đó tâm được định tĩnh không bị các pháp trần chi phối, đó là nhờ công năng giữ giới mà định sanh, Giới là nhân mà định là quả, muốn có quả trước phải gieo nhân.
Sau khi có được niềm an lạc định tĩnh, hành giả muốn đạt sâu vào định tĩnh, thì cần phải tìm một nơi an tịnh để tu tập định. Định là kỷ luật tâm linh cần thiết để đặt ra cho người tu tập. Nó nhằm đối trị tâm tán loạn, phóng dật theo thối quen từ vô thỉ đến nay, cho nên muốn thành tựu định cần phải có một ý chí mạnh mẽ, nổ lực tối đa, để uốn nắn tâm điên đảo, vọng tưởng vào một khuôn khổ kỷ luật nhất định. Kỷ luật ở đây có thể nói là giới, nhờ sư ïhổ trợ của giới mà định dần dần phát sinh. Hơn nữa các pháp quán như quán thân bất tịnh, quán tứ niệm xứ, quán thọ là khổ… Sẽ giúp hành giả thấy được thật tướng của các pháp, từ đó tâm mình không còn móng niệm tham đắm, chấp trước. Tâm ly tham xuất hiện như một cảm giác khoái lạc hoan hỷ khi mọi gánh nặng tham ái đã được đặt xuống nhờ đó mà trí huệ phát sanh.
Trí tuệ được phát sinh nhờ tu tập Thiền định. Cũng cần khẳng định rằng Trí tuệ do thiền định sinh là trí tuệ vô lậu, chứ không phải là phàm phu trí hay hữu lậu trí thường tình. Đó là trí tuệ thấy rõ thật tướng của các pháp, thấy rõ sự lý Tứ Đế và có khả năng đoạn trừ khổ đau sanh tử. Nhờ trí tuệ này mà hành giả mới quán sát thấy rõ các pháp là vô thường, khổ không, vô ngã.
            
 Tất cả hành vô thường
              Với tuệ quán thấy vậy
              Đau khổ được nhàm chán
              Chính con đường thanh tịnh (PC227)

Như vậy, Trí tuệ là chặn cuối của tiến tu tập tâm và đóng vai trò quyết định tối hậu. vì rằng chỉ sức mạnh của trí tuệ vô lậu mới có thể phá vỡ và đốt cháy mọi chấp thủ, lậu, hoặc vi tế mà ngay trong thiền định hành giả thường mắc phải
Mỗi chặng của quá trình đều là những mắc xích đan chặt vào nhau và hổ tương cho nhau.  Trong Giới phải có Định và Tuệ, trong Định phải có Giới và Tuệ và trong Tuệ phải có Giới và Định. Chúng ta có thể ví Giới- Định -Tuệ như cái vạc có ba chân, nếu một trong ba cái chân ấy bị hỏng thì cái vạc không thể đứng vững được. Cũng vậy người tu theo phật giáo nếu có Định và Tuệ mà không có Giới thì Định, Tuệ ấy có chăng chỉ là tà định và tà tuệ của ngoại đạo mà thôi
Nếu không trú vững trên đất Giới thì chắc chắn Định và Tuệ không thể nẩy mầm được. Cho nên Kinh Lăng Nghiêm nó rằng: “Dù  có người tu hành  được đắc Định, đắc Tuệ mà không có Giới Luật thì cũng là ma đạo mà thôi”.Vai trò quan rọng của mối liên hêï mật thiết trong ba môn học nói trên, một lần nữa cho ta thấy rằng không thể nào tách rời hay coi trọng bất cứ môn học nào cả.
Giới- Định -Tuệ lá pháp môn mà Đức Phật đã tu tập và thực chứng dưới cội Bồ Đề, cho nên người tu tập phải kết hợp chặc chẽ ba môn học này không hề loại bỏ bất kỳ một vấn đề nào. Vì như vậy mục đích tối hậu là giải thoát an lạc sẽ không bao giờ dạt đến được .
Hành giả cần phải ý thức được rằng pháp môn tu tập Giới –Định –Tuệ là một nhu cầu cần thiết và không thể thiếu được như miếng cơm, manh áo, hơi thở mà ta thường dùng hằng ngày. Có như vậy người tu tập mới thực sự  “sống với”chớ không phải “nói về”. Giới –Định –Tuệ đối với đời sống con người hết sức quan trọng. Nếu cuộc sống mà thiếu vắng Giới-Định-Tuệ thì xã hội dễ dàng dẫn đến chiến tranh, trộm cướp, các tệ nạn xã hội… muốn có một xã hội yên lành, một quốc gia thịnh trị, một thế giới hòa bình, một thiền môn nghiêm tịnh … thì mỗi người con phật cần phải thực hện qua những giới điều mà Đức Phật dạy. Đây là hoài vọng của Phật, khi Ngài xiển dương chánh pháp đem đến một trật tự công bằng xã hội, để đáp ứng khác vọng hạnh phúc cho nhân loại mà không có mặt đạo đức thì khổ đau vẫn tồn tại mãi mãi, Cho nên việc tu tập giới, hành trì giới cũng nhằm xây dựng cho tất cả mọi người đều có một nếp sống đạo đức, và nếp sống ấy giúp cho người học phật trở nên thánh thiện thuần tịnh. Nói một cách khác hơn, chỉ có Giới Định Tuệ mới có thể biến thành những chất bổ dưỡng nuôi Giới Thân Huệ Mạng cho hành giả ngày thêm lớn mạnh và vững chắc, nếu là người chân tu thật học thì trong hoàn cảnh nào đi nữa chúng ta cũng không rời Giới Định Tuệ : “Dầu ai nói ngã nói nghiên, lòng ta vẫn giữ như kiền ba chân”. Đây cũng là chân lý của Phật trước khi viên tịch Ngày đã để lại bức thông điệp sau cùng, nhắn nhủ với tất cả đệ tử của Ngày  “phải y Giới Luật làm thầy”, từ giới sinh định lực, như trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương có câu : “chế tâm bất xứ, vô sự bất biện “. Trước mắt chúng ta có bao nhiêu việt khó, mà lòng ta đã lắng thì cũng tìm ra biện pháp giải quyết được.  Từ định sinh tuệ như quét rác gom lại một chổ rồi ta mới hốt dọn thì trên nền đất mới sạch, do đó Giới Định Tuệ như chiếc đỉnh ba chân thiếu một không thể đứng vững, như chiếc áo hộ thân khi xông pha ngoài mưa tên, lửa đạn quân thù, như năm thứ ma luôn theo phiền nhiểu, nếu mềm lòng thì chúng ta sẽ ngã quỵ. Như Đức Phật dạy: “ Chính chúng ta là hòn đảo kiên cố để tự nương tựa khi ngoài trời đầy phong ba bảo tố, nên cần phòng hộ các căn, chăn dắt tâm mình là cần yếu, phải biết Giới Luật lànền tảng để mỗi người con phật tu dưỡng giới thân huệ mạng của chính mình”
Để trở thành sứ giả Như Lai trong công cuộc hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sanh, thì hãy nên thắp sáng thực tại tuệ giác của chính mình, bằng tâm đức, hạnh đức và trí đức, lúc nào cũng nêu cao tinh thần Bố Giáo như Tôn Giả Phú Lâu Na, sống và chết cho chánh pháp, phải có tinh thần vô uý đầy đủ bi trí dũng, để mang dòng sữa pháp của Đức Phật ban bố cho chúng sanh, được đượm nhuần hương vị an lạc giải thoát, đem lại những lợi ích thiết thực trong đời sống, rất gần gủi và chấm dứt mọi sầu muộn ưu phiền cho tha nhân bằng cách dạy họ Quy Y  Tam Bảo giữ gìn năm giới, thì đảm bảo họ sẽ có niềm tin trong cuộc sống, hạnh phúc và an lạc.  Chỉ cần năm giới là đủ, năm giới là nền tảng cơ bản vững chắc nhất, dù kẻ đạo người tục cũng cần vâng giữ như nhau, vì nó sẽ mang lại những lợi ích thiết thực trong cộng đồng dân tộc, người có đạo không đạo đều cần, vì tính nhân quả thực tiển của nó. Mình vì mọi người mọi người vì mình, người nào hiểu được điều này sẽ trở thành con người tự do, tự tại sẽ không hối tiết những chuyện quá khứ, cũng không lo lắng đến tương lai, bởi vì người ấy thấy rõ cuộc sống hiện tại là quan trọng nhất chính vì nó chi phối và tạo tác ở tương lai, vì thế mà có thể sống trọn vẹn trong giờ phúc hiện tại, sống tỉnh táo năng động và lạc quan .
Cuộc sống trọn vẹn trong hiện tại, chính là cuộc sống có cống hiến lớn nhất đối với xã hội và đối với bản thân, cũng là lối sống tốt đẹp nhất, hạnh phúc nhất. Khi nói đạo phật là con đường sống, một khoa học và nghệ thuật sống đi vào chiều sâu của tâm hồn, tức là chúng ta muốn nói nếp sống trọn vẹn tỉnh táo trong giờ phúc hiện tại, chứ không phải là lối sống mê muội tà kiến. Như vậy, Đạo Phật đã dẫn chúng ta đến con đường an vui hạnh phúc thiết thực trong cuộc sống hiện tại, bằng sự kiên trì nổ lực tu tập chính bản thân mình qua con đường Giới Định Tuệ.
Giới Định Tuệ là con đường duy nhất, là một phương pháp giáo dục hướng thượng, có khả năng đoạn trừ tất cả  những vô minh, tham ái, triền phược chấp thủ… và giúp cho người thực sự sống ra người có đạo đức, an lạc, giải thoát và đạt đến hạnh phúc chân thật. Vì thế việc trì giới có tầm quan trọng rất lớn, có sự quan hệ mật thiết tương quan, tương duyên, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình tu tập và đào luyện nội tâm để đạt đến tự chứng nội tâm.
          “Ở chốn trần ai chớ nhiễm trần
          Chuyên cần trì giới luyện tâm thân
          Lo tu lắng định lòng mình trước
          Đuốc tuệ sau này rọi thế nhân”      
Ngoài ra giới còn là nền tảng của các pháp như: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần và Bát Chánh Đạo. Trong suốt 49 năm hoằng truyền chánh pháp, Đức Phật thuyết rất nhiều pháp môn nhưng tất cả đều thuần một vị đó là giải thoát. Một trong những con đường đưa đến giải thoát phiền não khổ đau, thành tựu đạo quả không gì bằng “con đường Bát Chánh Đạo”. Bát Chánh Đạo chính là gioá lý mở rộng của ba pháp tu hết sức căn bản là Giới Định Tuệ.
Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn thuộc về giới: tức là lời nói, hành động phù hợp theo hướng giải thoát, sống một đời sống thanh bạch hoà diệu,  sống bằng công đức tu hành chơn chánh, có ý nghĩa lợi mình. Đó là thân, khẩu, ý ngăn dứt ác, làm lành vá phát triển lành, cũng có ý nghĩa  “chỉ trì và tác trì”
Chánh niệm, Chánh định thuộc về Định tức là nghi nhớ cảnh vô thường ngăn lục căn không cho tiếp xúc lục trần. Nhiếp phục vọng tâm “Nội cần khắc niệm chi công, ngoài hoằng bất tranh chi đức”, đạt đến tâm không cảnh tịch là nhân cho huệ phát chiếu .
Chánh kiến, Chánh tư duy thuộc về Huệ, tức là tâm bình ổn định, không tán loạn. Thấy biết quán sát một cách chơn chánh các pháp thế gian và xuất thế gian, suy nghĩ đúng đắn, không còn chấp ngã, chấp pháp đưa đến giải thoát niết bàn.
Cho nên Giới là gốc để bước lên con đường giải thoát mau chống, là gốc của vô thượng bồ đề, nếu tu định, huệ mà không giữ gìn giới hạnh thì không thể thành tựu được. Vì thế người xuất gia chúng ta không ngừng trau dồi giới hạnh, bởi giới có nghiêm tịnh thì tâm mới được định, tâm có định thì huệ mới phát sanh đưa đến sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Chính vì vậy khi ta mới vào chùa Bổn Sư thường dạy “Tiên học luật, hậu học kinh” là thế, vì giới là giềng mối kỷ cương vững chắc của người xuất gia để tránh mọi lỗi lầm có thể xảy ra mà những nghi thức động tác phải hành trì. Có như thế mọi khổ đau phiền toái được xoa dịu và đoạn tận, giúp con người có thêm niềm tin tất yếu, khát vọng muốn sống để được làm người trọn vẹn và hướng về Chân Thiện Mỹ.

C. KẾT LUẬN

Giáo Pháp siêu việt là thực tiển của Đức Phật được sáng tỏ có giá trị trong cuộc sống, hay được phổ cập trong xã hội loài người, tất cả điều phụ thuộc vào tư cách, nói chung, từ hình thức đến tâm linh của người tu sĩ. Tư cách ấy được biểu thị bằng Giới Luật nghiêm trì :
     “Giới luật nghiêm trì, tùng lâm thời thời hưng thạnh”
Đây là vấn đề trọng yếu quyết định vận mệnh của phật pháp trong mọi thời đại và mọi chốn mọi nơi. Trải qua hơn hai ngàn năm, dù cho thời gian vô cùng,  không gian vô tận, lời dạy của Đức Phật còn vang vọng đâu đây “Các đệ tử hãy nương vào Giới Luật để tu tập và lấy Giới Luật làm thầy”. Âm hưởng lời dạy ấy xuyên thủng thời gian, không gian tồn tại đến ngày nay. Đức Thế Tôn của chúng ta chế ra Giới Luật không phải bắt buộc chúng đệ tử phục tùng theo mệnh lệnh của Ngài. Không phải cũng cố tổ chức của mình, mà để ngăn ngừa các nghiệp từ ý nghĩ đến hành động, hầu thánh hoá chúng đệ tử, biểu thị sắc thái đạo đức, đưa đến an lạc giải thoát cho người tu sĩ.
Vì thế, một thầy Tỳ Kheo giới hạnh thanh tịnh là bản sao chụp lại đời sống thánh giả A La Hán một cách rõ ràng và hiện thực. Người xuất gia trang nghiêm Giới Luật là mảnh đất tốt để tăng trưởng thiện, là nền tảng để tiến bộ tâm linh, là nơi an ổn cho thế gian nương nhờ, cũng chính là một thành viên tích cực góp phần xây dựng ngôi nhà phật pháp được hưng thạnh. Chỉ có Giới Luật mới tạo nên đức hạnh cho người xuất gia, mới đem lại niềm an lạc hạnh phúc cho chính bản thân họ.
              Giữ tâm như đuốc sáng
              Trau giới như gươm vàng
              Mỗi ý là châu ngọc
              Mỗi lời là hoa thơm
              Người nghiêm trì giới luật
              An lạc khắp chốn nơi
              Như hương xông ba cõi
              Như hoa nở khắp nơi
                          (Pháp Cú).HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.23/11/2015.

No comments:

Post a Comment