Monday, November 23, 2015

Oai nghi yếu giải.

        

Những ngôn ngữ cử chỉ hằng ngày nơi mỗi con người, được thể hiện bởi Đức và Hạnh. Trong mỗi lời ăn tiếng nói, trong mỗi cử chỉ hành động được biểu hiện bằng sự chân thật của lòng mình
Những ngôn ngữ cử chỉ hằng ngày nơi mỗi con người, được thể hiện bởi Đức và Hạnh.
Trong mỗi lời ăn tiếng nói, trong mỗi cử chỉ hành động được biểu hiện bằng sự chân thật của lòng mình chứ không dụng tâm dối mị để được thiên hạ nhận lầm rồi vọng tình tán thán.
Hành vi ngôn ngữ đó theo luật học gọi là Oai Nghi hay nói đủ hơn là Oai Nghi Tế Hạnh.
Đức Phật dạy: Trên lộ trình giải thoát giác ngộ, Sa Môn phải thực hành tam thiên oai nghi, bát vạn tế hạnh…Trong từng phút, oai nghi được kiểm soát, nơi mỗi niệm tế hạnh không lầm lẫn. Đó là một vị Phật hay nói cách khác là một vị đã giải thoát, giác ngộ.
Vì nhân sinh thời mạt pháp, phần nhiều ưa giải đải, chư Tổ phải quán cơ tác thành văn tự bằng những ước số giới hạn để phù hợp và thích ứng với thế thái nhân tình. Đó là 24 thiên oai nghi cho hàng Sa Di tập học trước khi đăng đàn thọ cụ túc giới.
Những điều tắc sau đây được chư Tổ trích ra từ các bộ kinh nói về oai nghi của Sa Môn. Bản Thanh Quy của Tổ Bách Trượng thời xưa, tác phẩm Thành Phạm cận đại và bộ Hành Hộ luật nghi của ngài Đạo Tuyên luật sư, là những bản phần nhiều dành cho các vụ tân tỳ kheo, nhưng thấy Sa Di cũng phải dự biết trước nên những điều thông dụng cũng trích ra để Sa Di tập học.





Tổng quát thiên thứ 1: KÍNH TRỌNG BẬC ĐẠI SA MÔN
Thiên nay chia 3 phần:
Phần thứ nhất nói về những điều cấm để tỏ thái độ cung kính.
-         Không được kêu tên chữ của vị đại Sa Môn.
-         Không được nghe trộm khi đại Sa Môn thuyết giới.
-         Không được nói lỗi của vị đại Sa Môn.
-         Không được khi ngồi thấy đại Sa Môn đi qua mà không đứng dậy.
Phần thứ hai nói những điều khai: Khi đọc kinh, khi bệnh, khi cạo đầu, khi ăn và khi làm việc chúng.
Phần thứ ba nói nên biết vị trí của đại Sa Môn.
-         Theo bộ Hành Hộ: 5 hạ trở lên là địa vị A Xà Lê.
-         10 hạ trở lên là địa vị của Hòa Thượng.

* YẾU GIẢI:
Đây là hành xử cần có đầu tiên của một Sa Di nói riêng và chúng tăng nói chung. Nếu hành xử này không được thực hành thì đối với sự giải thoát, giác ngộ khó mà thành tựu. Bởi thế chúng ta cần phải nghiêm túc cung kính các bậc đại Sa Môn từ bản thân cho đến mọi việc làm của các ngài. Ở đây trích một vài đoạn kinh, luật để chúng ta thấy sự lưu tâm của Phật Tổ đối với vấn đề này:
經雜啊含:當恭敬住,當常繫心,常慎心。若不恭敬心,不繫心,不畏慎心,而欲令威儀具足者,無有是處。不備威儀,欲令學法滿者無有是處。學法不滿足,欲令五分法身具足者,無有是處。五分法身不具足者,欲得無餘涅槃者,無有是處。
大律:出家之人,所有言說皆為利益。不應私忿,道說於他。
論毘尼母:若向白衣說些比丘過惡,則前人於佛法中無信敬心,寧破塔像,不向人說比丘過惡,若說過罪者則壞法身。








Tổng quát thiên thứ 2: HẦU THẦY
Thiên này chia hai phần (gồm 27 việc).
Phần thứ nhất nói về tám oai nghi chính.
1.      Thái độ của Sa Di cần phải có khi hầu thầy.
-         Phải dậy sớm.
-         Muốn vào cửa phải gảy móng ba lần.
-         Nếu có lỗi Hòa Thượng, A Xà Lê giáo giới không được nói nghịch lại.
-         Xem Hòa Thượng, A Xà Lê cũng như đối với Phật.
-         Nếu bảo đổ đồ bất tịnh không được khạc nhổ và không được tỏ thái độ bực bội.
2.      Lễ bái phải đúng thời.
-         Nếu lễ bái, khi thầy tọa thiền, thầy kinh hành, thầy thời cơm, thầy thuyết kinh, thầy xỉa răng, thầy tắm rửa, thầy ngủ nghỉ..v..v…đều không nên lễ bái.
-         Chữ (等) v.v ở đây là chỉ cho khi thầy đang bận các việc như khi cạo đầu, rửa chân, có việc đang dở dang không rảnh, thầy tiếp khách và khi thầy đóng cửa không nên đứng ngoài lễ bái, muốn vào cửa phải gảy móng tay 3 lần, thầy không đáp không nên tự tiện bước vào mà phải lui ra.
3.      Phép hầu thầy khi thời cơm.
-         Dâng cơm cho thầy, phải bưng hai tay đưa cao. Thầy thời xong phải từ từ nhẹ nhàng.
-         Hầu thầy không nên đứng đối diện, không đứng chỗ cao hơn thầy, không đứng quá xa để thầy nói nhỏ mình vẫn nghe được khỏi hao sức thầy.
4.      Phép thưa thỉnh khi cần việc.
-         Nếu thưa thỉnh về nhân duyên Phật Pháp, phải sửa áo lễ bái quỳ gối chắp tay, thầy có dạy bảo thì lắng lòng lắng nghe tư duy thâm nhập (văn, tư, tu).
-         Nếu thưa hỏi việc thường trong chùa, khỏi cần lạy quỳ chỉ đứng ngay thẳng một bên thầy và cứ thật trình bày rõ ràng.
-         Nếu thầy thân tâm không được khỏe bảo lui thì nên lui, không được tâm tình không vui hiện ra nơi sắc mặt.
5.      Phép khi có lỗi đến thầy xin sám hối.
-         Phàm có lỗi lầm như phạm giới v.v…không được che giấu mà phải cấp tốc đến trước thầy cầu xin sám hối. Thầy chấp nhận cho thì phải hết lòng phát lộ (nói rõ lỗi lầm gì) rồi phải chân thành hối cải để được thanh tịnh trở lại.
-         Thầy nói chưa rồi không được nói xen vào.
6.      Tôn trọng chỗ ngồi của thầy và việc đem thư tín.
-         Không được ngồi trên chỗ ngồi của thầy dù chỉ giỡn chơi.
-         Không được nằm giường thầy cho đến mặc áo, đội mũ của thầy…
-         Thầy sai đưa thư tín thì không được lén mở xem, cũng không được cho người khác xem. Khi đến nơi người nhận thư có hỏi han điều gì (phải ngũy suy những điều gì nên trả lời và không nên trả lời) nên trả lời thì cứ thật mà trả lời, nếu không nên thì phải từ chối cho thật khéo. Họ có mời ở lại thì không được tự tiện ở lại, mà phải một lòng nhớ rằng thầy đang trông mình về.
7.      Phép đứng hầu thầy khi có khách.
-         Thầy tiếp khách nên đứng chỗ thường đứng, hoặc đứng bên thầy, điều tất yếu là để tai và mắt có thể lắng nghe, lỡ thầy cần việc gì sai bảo.
8.      Phép hầu thầy khi tật bệnh.
-         Thầy tật bệnh phải hết lòng điều trị, phải chu đáo mọi chuyện như phòng thất, mền nệm, thuốc thang, cơm cháo…
-         Các việc mặc áo, mang giày dép cho thầy v.v…tất cả phải đúng phép như trong luật đã nói rõ.

Phần thứ hai bổ khuyết những oai nghi phụ, có hai:
1.      Phép cung kính thầy qua 3 nghiệp:
-         Hầu Thầy, Thầy không cho phép thì không được ngôi, không hỏi không dám thưa trừ có việc cần muốn hỏi.
-         Phàm đứng hầu Thầy không nên dựa tường vịn ghế, mà phải thân thẳng ngay ngắn đứng bên Thầy.
-         Muốn lễ bái, nếu Thầy không cho nên thuận theo lời Thầy chớ lạy gắng.
-         Phàm khi Thầy cùng khách đàm luận có những điều liên quan đạo pháp, thấy có ích cho thân tâm thì nên ghi lấy.
-         Thầy sai bảo điều gì nên làm kịp thời cho xong, không được trái lại.
-         Phàm ngủ nghỉ không được trước Thầy.
-         Phàm ai hỏi tên húy của Thầy nên trả lời (thượng mộ tự, hạ mỗ tự).
2.      Phép chọn Thầy cầu pháp và khi xa Thầy:
-         Phàm đệ tử phải chọn bậc minh sư, gần gũi Thầy cho thật lâu, không được rời Thầy quá sớm; nếu như Thầy thật bất minh thì phải tìm bậc lương đạo khác. Giả sử phải rời Thầy, nên phải ghi nhớ lời giáo huấn của Thầy. Không được lung lòng tự dụng, xuôi theo dòng đời trôi chảy, làm những việc bất chánh; không được ở những nơi ồn ào náo nhiệt như chợ và giếng; không được ở nơi miếu thờ thần; không được ở trong phòng ốc dân chúng, không được ở gần chùa Ni; không được cùng Thầy ở chỗ khác nhau mà làm mọi việc ác trong thế gian.

* YẾU GIẢI:
Thầy là bậc thay Phật Tổ để duy trì và tuyên dương chánh pháp, là vị làm mô phạm cho chúng ta trên con đường tiến tu đạo nghiệp.
Bở vậy, chúng ta phải hết lòng cung kính và phụng sự.
Để thấy được thêm tầm quan trọng và trách nhiệm của chúng ta đối với Thầy, chúng ta nên xem lại một vài đoạn trong các kinh luật có liên hệ:
大律:弟子看和尚當具四心,一身愛,二敬順,三怖畏,四尊重心。
成梵:沙彌於師常懷敬畏,隨順師意,常懷慚愧,念報四恩,傍資三有。
行戶:在師前不得搞癢,搞頭,捋面,不得對師著襪,洗足等。
五十頌:當慕於師德,不應窺小過。隨順獲成就,求過當自損
善恭敬經:弟子於師所麤言,師所呵責不應反報;師不發問,不得輒言,凡有所使,勿得違慢。若於師所不起恭敬,說於師僧長短之者,彼愚癡人,應如法治。師寔有過尚不得說,況當無也。若於師邊,不恭敬者,別有一小地獄名為推樸,當墮是中一身四頭,身體俱然狀如火聚,出大猛焰,熾然不息。復有鉤觜毒蟲。常砸舌根,從地獄出,生畜生中,恆食屎尿,捨彼身已,雖生人間,常生邊地,皮不似人,不能具足之形色,常被輕賤,誹謗凌辱,離佛世尊,恒無智慧,從彼死已,還墮地獄,更得無量無邊苦患之法。
成梵:凡有誤失過咎,師或示怒,種種呵責,不得巧辭飾非,纔見師怒,即當畏懼斂容,胡跪師前,心懷愧恥,受嘖,有過則改無過默然。
五十頌:不應師前身現疲勞相,屈指節作聲,倚柱及牆壁。
兜率菩薩下生經:侍者具八法;一信心堅固,二其心覓進,三身無諸病,四精進,五具念心,六心不憍慢,七能成定意,八具足聞智。


誠梵曰:師若重病應一心調治,如法調煮羹湯藥餌;不幸師圓寂,不應哭泣,當一一如教奉行,師誡囑不得違命。



Tổng quát thiên thứ 3: HẦU THẦY KHI RA ĐI
Thiên này chia hai phần (gồm 9 việc).
Phần thứ nhất nói bốn oai nghi chính
1.      Lúc cùng Thầy đang đi giữa đường.
-         Không được ghé vào nhà người.
-         Không được dừng lại nói chuyện với người khác.
-         Không được liếc ngó hai bên, mà phải cúi đầu theo sau Thầy.
2.      Lúc đến nhà người.
-         Đến nhà đàn việt phải ở một chỗ Thầy dạy ngồi mới được ngồi.
-         Đến các chùa viện, Thầy lễ Phật hoặc mình tự lễ Phật không được tự đánh chuông hoặc khánh.
3.      Lúc leo núi.
-         Nếu leo núi phải mang tọa cụ.
-         Không được rời Thầy quá xa.
4.      Khi lội nước.
-         Phải cầm tích trượng dò thử sâu cạn.
-         Mang theo bình bát và luôn cầm tích trượng. (Cách thức có nói rõ ràng, xem thêm trong đại luật).
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ (có 2 việc).
1.      Giữ đúng hẹn ước.
-         Nếu tình cờ phải tách nhau ra đi thì hẹn gặp nhau ở chỗ nào đó, nhưng không được đến sau.
2.      Phương pháp khi Thầy thọ trai.
-         Thầy thọ trai phải đứng hầu để xuất sanh.
-         Thầy thọ trai xong phải hầu để nhận vật cúng.

* YẾU GIẢI
Là thị giả phải luôn luôn ở bên cạnh Thầy để đáp ứng những gì Thầy cần, nhất là đi ra khỏi chùa thì phải thận trọng hơn. Phải đem theo những vật dụng cần thiết cho Thầy. Đến đâu cũng phải giữ đúng tư cách của người thị giả.


Tổng quát thiên thứ 4: NHẬP CHÚNG.
Thiên này chia 2 phần (gồm 32 việc).
Phần thứ nhất có 7 oai nghi chính.
1.      Đức khiêm nhường.
-         Không được tranh giành chỗ ngồi.
-         Không được ở tại tòa cao kêu nhau nói cười.
-         Trong chúng có ai mất oai nghi nên che xấu bày tốt.
-         Không được khoe mệt để tỏ mình là người có công.
2.      Luôn luôn sách tấn mình.
-         Phàm ở trú xứ khác không được ngủ trước người, không được dậy sau người.
3.      Phải tu tập phước đức và tiết kiệm.
-         Rửa mặt không được dùng nước nhiều.
-         Chà răng nhổ nước phải cúi đầu thấp xuống không nên phun nước nhằm người.
-         Không được cao tiếng nôn ọe hay khạc nhổ.
-         Không được ở trong điện tháp hoặc tịnh thất, tịnh địa mà nhổ nước miếng và hỷ mũi, phải tìm chỗ khuất để nhổ nước miếng và nước mũi.
-         Khi uống trà không được dùng tay còn lại để chào người hoặc mời người uống.
-         Không được hướng tháp, hướng Hòa Thượng, A Xà Lễ để tẩy răng.
4.      Luôn luôn tu tập hạnh nguyện rộng lớn.
-         Phàm nghe tiếng chuông phải chắp tay mặc niệm:
                        Văn chung thanh phiền não khinh
                        Trí tuệ trưởng Bồ Đề sanh
                        Ly địa ngục xuất hỏa khanh
                        Nguyện thành Phật độ chúng sanh
                        Án già ra đế da tóa ha.
5.      Cẩn thận giữ gìn oai nghi.
-         Không được cười nhiều hoặc cười lớn và ngáp thì phải lấy tay áo để che miệng.
-         Không được đi quá nhanh.
6.      Cung kính và thận trọng việc cúng Phật.
-         Không được đem đèn trên bàn Phật xuống dùng riêng, nếu thắp đèn phải dùng lồng kín che lại chớ để các loài trùng bay vào.
-         Hoa cúng Phật phải dùng hoa vừa nở đều tròn. Không được ngửi trước, bỏ hoa héo rồi mới cúng hoa mới, hoa tàn không được vứt bỏ xuống đất dẫm đạp lên, phải bỏ vào chỗ khuất kín.
7.      Nói cần giữ tâm thành khiết.
-         Không được nghe kêu không trả lời, phàm nghe kêu phải dùng câu niệm Phật để đáp lại.
-         Phàm lượm vật rơi liền bạch với Thầy tri sự.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ có 6 oai nghi.
1.      Tự trọng.
-         Không được cùng với Sa Di trẻ tuổi kết bạn.
2.      Luôn luôn hành luật chế về sắc phục.
-         Không được đối với ba y để cẩu thả lộn xộn.
-         Không được may sắm nhiều y áo nếu có dư phải xả.
-         Không được sắm dây tua phủ phất tốt và các thứ đồ chơi để trang điểm theo thói giang hồ để chuốc lấy sự cười chê của hàng thức giả.
-         Không được phục sức màu sắc sặc sỡ như thế tục.
-         Không được tay không sạch đắp y.
-         Lên điện Phật phải buộc dây chân không được lung ý tự tiện.
3.      Suy nghĩ về sự lợi ích trong vấn đề tu tập.
-         Không được đi dạo.
-         Không được ngồi nhìn đại chúng làm việc mệt nhọc mà mình lại nhác nhớm tìm cách lén tránh để an thân.
4.      Phải biết nhân quả.
-         Không được lấy dùng riêng vật dụng của chiêu đề như tre pheo, cây cối, rau cải, hoa quả, mọi thức ăn đồ uống và tất cả mọi thứ vật dụng khác.
5.      Cẩn thận khẩu nghiệp trong sự tương giao.
-         Không được luận bàn chuyện triều đình công phủ, việc chính trị được mất, chuyện tốt xấu của nhà bạch y.
-         Phàm tự xưng nên dùng hai chữ pháp danh, không nên nói tôi hoặc tiểu tăng.
6.      Kiểm soát tâm ý trước khi phát ngôn.
-         Không được vì chuyện nhỏ mà tranh chấp, chuyện lớn khó nhẫn nại.
-         Phải luôn luôn bình tâm giữ hòa khí; dùng ý để luận biện không được thì nên tìm cách rút lui.
-         Nếu động khí phát thô tức chẳng phải hảo tăng.
清規:有理無理並出院。何也!蓋僧當忍辱,若執有理而諍者即是無明,故同故同擯之,當息諍於未萌也。
大律:不忍辱人有五種過:一兇惡增長,二事後悔恨,三多人不愛,四惡聲流布,五死墮惡道。

* YẾU GIẢI
Những đức tính cần có khi sống chung với đại chúng là đức tính khiêm nhường, luôn luôn tinh tấn dũng mãnh  trong sự tu tập cũng như trong mọi việc làm của chúng, luôn có tâm niệm vị tha, chân thành tin tưởng lẫn nhau. Ngoài ra còn phải biết tự trọng, giữ gìn tâm ý trước khi phát ngôn, biết vận dụng sự tu tập trong khi làm việc và phải rõ nguyên nhân, kết quả của một hành vi. Nói đúng hơn là phải đầy đủ oai nghi như pháp nơi ba nghiệp trong lúc sống chung với đại chúng và lấy hạnh nhẫn nhục làm tiêu chuẩn cho cuộc sống.

Tổng quát thiên thứ 5: THEO CHÚNG THỌ THỰC
Thiên này chia hai phần (gồm 25 việc).
Phần thứ nhất nói 7 oai nghi chính.
1.      Khi ăn phải cúng thí hai phước điền (ân Tam Bảo và ân chúng sinh).
-         Nghe tiếng chùy, tức thời phải sửa y phục đến trai đường, khi ăn phải thành tâm chú nguyện.
-         Cơm xuất sanh không quá bảy hạt, bún không quá một tấc, bánh mạn đâu không quá một lóng tay. Nhiều thời tham, ít thì sẽ bòn xẻn. Ngoài ra các thứ khác như rau, cải , đậu hủ đều không được xuất sanh.
-         Khi xuất sanh nên để giữa long bàn tay niệm bài kệ:
                        Nhữ đẳng quỷ thần chúng
                        Ngã kim thí nhữ cúng
                        Thử thực biến thập phương
                        Nhất thế quỷ thần cọng.
2.      Khi ăn phải chú tâm chánh niệm quán 5 điều.
-         Một xét công nhiều hay ít và ước lượng xuất xứ thực vật.
-         Hai nghĩ đức hạnh của mình đủ hay thiếu để thọ của cúng dường.
-         Ba ngăn thừa tham, sân, si là tâm lý gốc dẫn đến các tội lỗi.
-         Bốn vì chính đây là vị thuốc hay để chữa bệnh khô gầy.
-         Năm vì thành tựu đạo nghiệp mà ứng thọ thức ăn này.
3.      Khi ăn cần tránh những tâm lý và hành vi xấu.
-         Không nên chê khen đồ ăn ngon hay dở.
-         Không nên ném đồ ăn cho chó.
4.      Hạn chế nói chuyện cười trong lúc ăn.
-         Đồ ăn đem thêm nếu không ăn thì dùng tay ra dấu chứ không dùng bằng lời nói.
-         Không nên gãi đầu khi đang ăn.
-         Không nên ăn nhai thành tiếng.
5.      Những hành vi cần có khi ăn.
-         Trong đồ ăn lỡ có sâu bọ nên kín đáo lấy ra, chớ để người khác thấy anh tâm không muốn ăn.
-         Phải ngồi ăn một lần, không nên đứng dậy rồi ngồi ăn lại.
-         Không nên lấy tay vét chén bát mà ăn, cũng không nên lấy lưỡi mà liếm.
6.      Thái độ ăn.
-         Không được ăn quá nhanh.
-         Khi đồ ăn hết thị giả chưa đem lên kịp không khởi tâm sầu não.
-         Khi muốn nhu cầu them nên dùng tay ra hiệu chứ không được réo gọi.
-         Không được khua bát thành tiếng.
-         Không được ăn xong đứng dậy trước chúng (trừ bệnh và chánh vụ).
-         Ăn xong xỉa răng nên lấy tay che miệng. TỔ QUY SƠN dạy:
                        宛缽作聲食畢先起,
                        去就乖角僧體全無,
                        起坐忪諸動他心念。
Đại luật: Có một vị tỳ kheo ăn xong lặng lẽ đứng dậy một mình đi, tín thí thấy họ bảo với nhau không biết thầy ấy ăn thiếu hay đủ nhỉ? Một vị tỳ kheo khác nhân đó bạch Phật. Phật dạy: Kể từ hôm nay tỳ kheo ăn xong nên vì đàn việt tụng bài kệ:
                        Sở vị bố thí giả
                        Tất hoạch kỳ lợi ích
                        Nhược vị lạc bố thí
                        Hậu tất đắc an lạc.
7.      Thuận theo tăng chế và tiết kiệm phước đức.
-         Nếu ai vi phạm tăng chế, nghe bạch chùy không được kháng cự không phục.
-         Nếu trong cơm có lúa thì phải bóc vỏ mà ăn (nếu lúa nhiều thì dồn lại sau đó đem cho gà vịt, chim chóc ăn).
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ.
-         Không được thấy đồ ăn ngon mà khởi tham tâm, khoái khẩu mà ăn.
-         Không được ăn riêng chúng.

* YẾU GIẢI:
Khất thực là truyền thống của chư Phật ba đời. Ngày nay hàng tăng sĩ chúng ta phần nhiều không thực hành được thiện hạnh đó. Chúng ta phải tự nhận thấy, dù có biện bác gì đi nữa thì cũng xa với hạnh Phật. Vì thế khi ăn lúc nào chúng ta cũng khởi tâm tàm quý, phải như pháp mà ăn, không nên vọng động xem thường và phải nhớ lời Phật dạy.
若慚愧者可名為人,若不慚愧與諸禽獸無相異也。


Tổng quát thiên thứ 6: LỄ BÁI
Thiên này chia 2 phần (gồm 10 việc).
Phần thứ nhất nói 3 oai nghi chính.
1.      Khi lễ bái phải kính nhường vị trí của trú trì và tôn trọng người khác đang lễ bái.
-         Lễ bái không được đứng chính giữa chánh điện vì đây là vị trí của vị trú trì.
-         Có người lễ Phật không được đi ngang qua trên đầu họ.
2.      Lễ Phật phải đủ oai nghi và đúng thời.
-         Phàm chấp tay không được 10 ngón so le, không được rỗng ở giữa, không được lấy ngón tay cắm vào mũi, phải chấp tay ngang ngực cao thấp vừa chừng.
-         Không được phi thời lễ bái, như muốn lễ bái phi thời phải đợi mọi người vắng.
3.      Phải tôn sư trọng pháp.
-         Thầy lễ Phật không được ngang cùng Thầy đảnh lễ, phải lễ bái phía sau lưng Thầy.
-         Thầy bái chào người khác không được cùng Thầy đồng lễ.
-         Trước mặt Thầy không được cùng người đồng bậc lạy nhau.
-         Trước mặt Thầy không được nhận sự lễ bái của người.
-         Tay mình đang cầm kinh, tượng không được vì người vái chào (hoặc lạy).
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ.
-         Phàm lễ bái phải tinh thành tác quán (giáo lý liệt kê 7 cách lạy không thể không biết cần nghiên cứu 7 cách lạy).

* YẾU GIẢI:
Lễ bái là một pháp môn trong muôn ngàn pháp môn tu tập khác. Khi lễ bái phải thành tâm thành tín mới có lợi ích. Khi lễ bái phải biết giữ oai nghi đúng cách và không nên phi thời. Ở đây cần lưu ý là trong bảy cách lễ mà ngài Lặc Na Tam Tạng đã dạy, thì ngã mạn lễ và cầu danh lễ là 2 cách mà ngài bảo là Phi lễ. Chúng ta nên hiểu qua ý nghĩa của nó mà tránh.
a.      我慢禮Ngã mạn lễ: Nghĩa là thân tuy lễ bái nhưng trong tâm không có sự cung kính. Bên ngoài tợ hồ như cung kính nhưng bên trong đầy ắp cả tâm lý cống cao ngã mạn.
b.      求名禮Cầu danh lễ: Còn gọi là xướng hòa lễ. Nghĩa là khi lễ bái chỉ vì danh dự lợi dưỡng mà trá hiện oai nghi vậy thôi. Tuy vẫn gọi là có lễ bái trên hình thức nhưng thật ra trong tâm thì không có sự ân cần, tôn trọng. Miệng xướng danh hiệu nhưng trong tâm hướng ra ngoại cảnh, chúng ta cần phải thận trọng và ý thức trong pháp môn tu này.

Tổng quát thiên thứ 7: THÍNH PHÁP
Thiên này chia hai phần (gồm 9 việc).
Phần thứ nhất nói những oai nghi chính trước và trong khi nghe Pháp.
-         Thấy có treo bảng thượng đường thì phải lên giảng đường ngay.
-         Tề chỉnh y phục.
-         Nhìn thẳng thân ngay đi lên giảng đường.
-         Nhẹ nhàng khi ngồi vào ghế.
-         Ngồi ngay thẳng.
-         Không được nói chuyện lung tung.
-         Không được ho và khạc nhổ lớn tiếng.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ.
-         Phải yên lặng lắng nghe khi Thầy giảng Pháp.
-         Nghe xong phải suy ngẫm.
-         Suy nghĩ rồi phải tu.
-         Không nên chuyên ghi nhận danh ngôn để cung để cung cấp cho việc đàm luận.
-         Không nên chưa lãnh hội mà nói là đã lãnh hội, vào tai ra miệng (cho như vậy là đủ).
-         Sa Di tuổi còn nhỏ, giới luật chưa nắm chắc, cần phải học luật trước. Không nên đến chỗ giảng Pháp sớm.

* YẾU GIẢI:
Nghe Pháp có hai điều cần lưu ý:
a.      Khi nghe Pháp phải đủ ba món: Văn, tư, tu. Văn tư tu là ba món huệ cần phải đủ, nếu thiếu một thì sự nghe Pháp không đem lại lợi ích. Nếu nghe mà không suy nghĩ, thì giống như cày ruộng mà không gieo giống. Nếu suy nghĩ mà không tu tập chẳng khác nào gieo giống rồi mà không vô nước,nhổ cỏ bón phân vậy.
b.      Chuyên ký danh ngôn là chỉ nghe văn tự ngôn ngữ rồi ghi nhận để vào tai ra miệng. Đây là lối nghe Pháp của những người mà trong Kinh dạy: Ví như người nói món ăn mà không ăn, như người đếm tiền cho kẻ khác, hoàn toàn chẳng giúp ích gì cho bản thân. Chúng ta nên đọc lại một vài đoạn Kinh, Luật để ý thức.
楞嚴經曰:  此方真教體,聲凈在音聞。
欲得三摩地,寔以聞中人。
付法藏經:佛言;一切眾生,欲出生死海必假法船,方得度脫。法為清涼,除煩惱熱,法是妙藥,能愈劇病,法是眾生真善知識,作大利益,濟諸苦惱。所以然者?一切眾生志性無定,隨所染習,近善則善,近惡則惡,若近惡友,便造惡業,流轉生死,無有邊際。若近善友,起信敬心,聽聞妙法,必能令離三塗苦惱,由此功德受最妙樂。
誠梵云:凡沙彌學心,當如旱地涸池,不厭多聞不棄寸陰。若遇法師上座。講說經論,了義之法,當虛心諦聽,於說法者,如父母本師想。於所聞法,如饑受食,渴飲湘想。





Tổng quát thiên thứ 8: TẬP HỌC KINH ĐIỂN
Thiên này chia hai phần (gồm 19 việc).
Phần thứ nhất nói về ba oai nghi chính:
1.      Học tập Kinh điển phải theo thứ lớp
-         Nên học Luật trước rồi học Kinh sau.
-         Không nên bỏ Luật để học Kinh trước.
-         Trước khi học Luật hay Kinh gì phải bạch Thầy.
-         Học xong Kinh, Luật phải bạch Thầy mới học Kinh khác.
2.      Kính Pháp trọng người đang học Kinh
-         Không được dùng miệng để thổi bụi trên Kinh.
-         Không được trên bàn Kinh để các vật dụng lộn xộn khác như trà lá ấm bình…
-         Người đang xem Kinh không nên đi ngang trước bàn Kinh.
3.      Lời răn Sa Di phải biết việc mình làm.
-         Việc chính của Sa Di là học tập Kinh Luật (nội điển).
-         Không nên học tập ngoài thư, tử sử các loại sách dịch của tehes gian nói về việc trị thế.
Phần thứ hai nói về bốn oai nghi phụ:
1.      Cấm không được học Kinh điển ngụy tạo tương trợ.
-         Không được tập học các loại Kinh điển chuyển để ứng phó đạo tràng.
-         Không được học tập những Kinh điển ngụy tạo như: Kinh cứu khổ, Kinh phân châu, Kinh diệu sa và huyết bồn.
2.      Cấm học tập ngoại thư.
-         Không được học tập sách coi số mạng, xem tướng, sách thuốc, sách nhà binh, sách bói toán, sách thiên văn, địa lý cho đến sách mang tính cách thần kỳ, quỷ quái, sách ngoại đạo, trừ lực hữu dư.
3.      Không được dụng công học kỹ xảo thế gian.
-         Không được học tập thi từ.
-         Không được đam mê tập viết chữ tốt mà quên học.
4.      Tôn sùng chính đạo
-         Không được tay nhớp cầm Kinh.
-         Đối với Kinh như đối với Phật.
-         Không được đọc Kinh quá lớn tiếng làm động chúng.
-         Không được mượn Kinh xem rồi không trả lại.
-         Mượn Kinh xem phải giữ gìn cẩn thận đừng để rách nát.

* YẾU GIẢI
-         Giữ đúng thời gian tiết thứ gọi là tập“時不失持曰習”。
-         Chuyên tinh thọ Pháp gọi là học“受法專精曰學”。
-         Giới luật được gọi là điều phục. Tâm tình chúng ta phần nhiều chưa định cho nên học luật trước là để điều phục, định tâm và thân. Cũng như trồng cây phải vun bồi gốc (học luật trước). Trồng cây rồi phải lo nước non, phân bón gốc rễ mới ăn sâu vào long đất, hoa lá mới phát triển, kết quả mới sung mãn.
-         Người khác đang xem Kinh không đi qua trước mặt, vì khi xem Kinh cần phải yên lặng để lắng đọng tâm tư và suy nghiệm cho thẩm thấu ý Kinh. Nếu đi qua sẽ làm cho họ sanh tâm động niệm, mất sự lợi ích.
-         Kinh sách hư hoại phải kịp thời tu bổ, không được để bừa bãi lộn xộn không đúng thứ lớp.
文殊經云:一世莊嚴供具,如口吹灰者,墮優缽羅獄,傍報作風神王。
沙彌十戒經云:首軸脫落,部帙失次,紙墨破列等,若不須理得罪。
-         Việc chính yếu cần làm trước tiên là học nội điển cho thuần thục, nếu dư sức rồi mới nên nghiên cứu them sách vở ngoại điển. Với mục đích để tô bồi kiến thức, thứ đến là để biết người biết ta trong việc tu tập.
佛藏經云:當來比丘好讀外經,於說法時,莊校文辭令眾歡喜,是諸人等為魔所惑,覆障慧眼深貪利養,猶如群盲為誑所欺。
輔行云:若為降伏外道故,十二時中,許一時習學外典。
-         Sa Si bổn nghiệp chưa thành mà chỉ lo tập học Kinh điển, lo việc cúng cấp nhiều thì bị lợi dưỡng cám dỗ và sẽ quên mất đi phẩm hạnh của mình. Nhưng xét thời đại nầy không thể khác được, cho nên chúng ta phải biết cảnh tỉnh và luôn thấy tàm quý.
故經云:當來世中,多有惡鬼受生人間,當壞噁心,時起諍論,各各來於名譽利養,偽造經書及諸符咒,自讃毀他令修學人,不知如向,盲於正眼失其正見是也。
(外書)Là những loại sách nói về việc xem tướng số, bói toán, sao hạn…Để tỏ thái độ và lập trường khi học tập kinh điển, chúng ta đừng quên lời dạy trong kinh Pháp Cú:
                        Tâm làm chủ sai sử
                        Tâm dẫn đầu các pháp
                        Nói năng hay hành động
                        Với tâm ý nhiễm ô
                        Đau khổ liền theo ta
                        Như bóng theo sau hình.

                        Tâm làm chủ tâm sai sử
                        Tâm dẫn đầu các pháp
                        Nói năng hay hành động
                        Với tâm ý thanh tịnh
                        Hạnh phúc liền theo ta
                        Như bóng theo sau hình.
-         Học tập kỹ xảo làm mất thì giờ không cần thiết cho sự giải thoát.
-         Tập học thơ từ dễ làm xao động tâm tư, vì thi từ chỉ là sáo ngữ để mua chuộc long người, không phải là ngôn ngữ từ cõi lòng chân thật, nên người học đạo không nên tập học vậy.





Tổng quát thiên thứ 9: ĐI ĐẾN CÁC TỰ VIỆN
Thiên này chia hai phần (gồm 7 việc):
Phần thứ nhất nói cách thức đi vào cổng chùa.
Vào cổng chùa không đi cửa giữa mà phải đi bên tả hoặc bên hữu mà vào.
Phần thứ hai nói vào điện tháp phải giữ oai nghi như Pháp.
-         Không được vô cớ vào đại điện dạo chơi.
-         Không được vô cớ vào tháp dạo chơi.
-         Vào đại điện hoặc tháp phải đi vào bên hữu.
-         Không được khạc nhổ trong điện tháp.
-         Nhiễu Phật hoặc nhiễu tháp phải đúng số và nhớ số 3 vòng, 7 vòng, 10 vòng cho đến 100 vòng.
-         Không được đem nón gậy vào điện tháp và không để gậy nón dựa vào tường.

* YẾU GIẢI
Mọi Pháp môn của Phật giáo đều là biểu tượng và tùy cơ để thi thiết biểu tượng chứ không nhất định. Nếu thi thiết đúng thời cơ là Phật giáo, ngược lại thì dù dưới dạng thức nào cũng là tà giáo.
-         Chữ 寺tự: Chùa, nguyên được dùng từ thời Hậu Hán. Đến thời Ngụy Thái Võ Đế gọi là Chiêu Đề招提. Đến thời Tùy Dương Đế gọi là Đạo Tràng道場. Đến đời nhà Đường gọi là 寺Chùa.
-         Hữu nhiễu: Biểu hiện tinh thần thích nghi của Phật giáo. Hành động của Phật giáo không ngược lại thực tại vận hành của thế gian (vũ trụ vạn hữu).
-         Đi ba vòng: Biểu thị thanh tịnh tâm nghiệp, cúng dường Tam Bảo, đoạn trừ tam độc để chấm dứt trôi lăng trong tam đồ ác đạo.
-         Đi bảy vòng: Biểu thị trừ thất chi tội (thân tam khẩu tứ), chứng đắc thất chi phần thánh đạo.
-         Đi mười vòng: Biểu thị đoạn trừ thập sử (còn gọi十漏惑, hoặc十根本煩惱), (ngũ độn sử và ngũ lợi sử). Theo Trí Độ Luận gọi là 10 triền cái (chứng đắc佛十力).
-         Đi một trăm vòng: Biểu thị đoạn trừ 100 phiền não (số nhiều), chứng đắc vô lượng diệu dụng.

Tổng quát thiên thứ 10: THEO CHÚNG VÀO THIỀN ĐƯỜNG.
Thiên này chia hai phần (gồm 17 việc):
Phần thứ nhất nói ba oai nghi chính:
1.      Giữ gìn tâm ý và hưng khởi từ tâm.
-         Ở trên đơn không được đập rũ mền chiếu gây tiếng làm động chúng, và bụi dơ bay làm người gần đơn sanh phiền não.
-         Xuống đơn thì phải thong thả nhẹ nhàng, mặc niệm bài kệ: Tùng triêu dần đán trực chí mộ…
2.      Cẩn thận giữ dìn khẩu và thân nghiệp.
-         Không được to lời lớn tiếng.
-         Nhẹ nhàng khi xếp mùng mền và vén màn (xếp cất đàng hoàng).
-         Không được kéo lê giày dép gây tiếng động ồn ào.
-         Không được ho khan ho đàm lớn tiếng.
-         Không được cùng người lân đơn cùng bàn tán chuyện thị phi ở đời.
3.      Đối với mọi sinh hoạt riêng và chung phải tuân thủ theo quy chế.
-         Có đạo bạn thâm tình đến thăm không được ngồi trong thiền đường nói chuyện lâu, phải mời ra một nơi thích hợp để cùng đàm đạo.
-         Nếu xem Kinh phải ngồi ngay thẳng, lắng lòng suy ngẫm ý nghĩa của Kinh, không nên đọc lớn tiếng.
-         Nghe bảng đánh phải lên thiền đường, tìm chỗ ngồi rồi mặc niệm kệ: Chánh thân đoan tọa đương nguyện chúng sinh…

* YẾU GIẢI:
Ngày xưa chúng tăng tu tập và ngủ nghỉ đều tập trung một chỗ, nên thiền đường ở đây là kể cả phòng ngủ của Tăng chứ không như ngày nay thiền đường tách riêng phòng ngủ. Tuy trên mặt hình thức có sự sai khác theo từng thời đại, nhưng nội dung vẫn giữ đúng các uy nghi và thanh quy mà chư Tổ đã để lại. Ngài TỪ THỌ THÂM THIỀN SƯ có dạy rằng:
若是舊時道伴遠地深情,相引林下水邊,方可傾心談論,至於交關賣買,引惹雜人盡非衲子所為。

Phần thứ hai nói các oai nghi bổ khuyết:
-         Không được đi thẳng qua thiền đường mà phải đi vòng sau hoặc hai bên.
-         Lên xuống giường phải giữ tế hạnh, đừng để người lân đơn động niệm.
-         Không được ngồi trên đơn viết văn tự trừ khi toàn chúng đều xem Kinh điển hoặc tọa thiền.
-         Không được trên thiền sang ngồi mà vá y áo mền nện…
-         Không được ban đêm trên thiền sang xúm nhau bày trà nước nói chuyện làm động chúng.
十戒經云:食則無語,臥則無談,坐則禪思,起則諷誦,戒行如此真佛弟子。如臥鄰單說話,大眾嫌疑,師長呵嘖,如是之人終成廢物。

* YẾU GIẢI:
Thiền đường là nơi cần được giữ yên tịnh, mọi sự qua lại không cần thiết nên giới hạn nhất là giờ chỉ tịnh. Ở trong thiền đường mọi sinh hoạt cần đủ oai nghi và đúng giờ giấc, đây cũng là một nếp văn minh, nếu những vấn đề này mà thiếu sự nghiêm túc thì đối với việc giải thoát còn quá xa vời, chúng ta nên cẩn trọng đừng xem thường.




Tổng quát thiên thứ 11: CHẤP TÁC
Thiên này chia 2 phần (gồm 12 việc).
Phần thứ nhất nói ba oai nghi chính.
1.      Dùng vật của Tăng phải biết giữ gìn và đứng theo phép tắc.
-         Phải biết thương tiếc vật dụng của Tăng chúng.
-         Phải nghe theo sự phân bố công việc của Thầy tri sự, không được cãi lại.
-         Phàm rửa rau cải phải thay nước ba lần.
2.      Thức ăn nước uống của chúng phải làm sạch sẽ.
-         Trước khi lấy nước phải rửa tay sạch sẽ.
-         Dùng nước phải xem kỹ có sâu bọ gì không rồi lọc kỹ.
-         Mùa đông không được lọc nước trước lúc mặt trời mọc.
-         Đốt bếp không được dùng củi mục.
-         Làm đồ ăn không được để móng tay nhớp.
3.      Bảo hộ sanh mạng như lời Phật dạy.
-         Phàm đổ nước dơ không được đổ giữa đường, không đưa lên cao đổ xuống mà phải hạ thấp cách mặt đất khoảng chừng 4 hoặc 5 tấc và đổ từ từ.
-         Phàm bao sái không được quét mạnh làm bụi bay, không được quét dồn rác bụi sau cánh cửa.
-         Trước khi giặt áo quần phải lượm chí rận rồi mới được giặt.
-         Mùa hè thau nước dùng xong phải úp lại vì nếu để ngửa dễ sanh trùng.
Phần thứ hai nói các oai nghi phụ:
-         Không được đổ nước sôi xuống đất.
-         Tất cả các thứ rau, cải, lúa, gạo…phải luôn luôn biết thương tiếc giữ gìn đừng vứt bỏ bừa bãi.

* YẾU GIẢI:
Chấp tác là làm những công việc bình thường hằng ngày trong mọi sinh hoạt của chúng Tăng. Mọi thành viên Tăng đều phải ý thức trách nhiệm và vận dụng sự tu tập trong công việc đó. Bởi thế khi ra làm việc phải giữ chánh niệm, thực hành đúng oai nghi của Phật chế để khỏi tổn hại vật của thường trú Tăng và khỏi cô phụ đạo tâm của đàn na tín thí.
Trích them một vài đoạn trong Kinh luật để chúng ta lưu ý khi chấp tác.
Sa Di Thập Giới Kinh có nói rằng: Không được nhúm củi tươi và củi ướt, không được để móng tay dài, dài bằng hạt bắp là phải cắt.
長爪即非好僧是為惡僧也。
 Trong Ký Quy truyện có dạy rằng: Làm đồ ăn để cúng dường Phật, Tăng nếu không rửa tay, súc miệng và dụng cụ để đựng không sạch thì sự cúng dường không mang lại lợi ích đích thực, mọi sở cầu đều không được linh nghiệm.
百綠經云:掃地得五種功德。一自除心垢,二除地心垢,三憍慢心,四調伏心,五增長功德得生善處。

Tổng quát thiên thứ 12: VÀO NHÀ TẮM
Thiên này chia hai phần (gồm 12 việc).
Phần thứ nhất nói 2 oai nghi chính:
1.      Phải tắm đúng oai nghi (thứ tự và nhẹ nhàng).
-         Trước hết phải gội đầu, rửa mặt rồi từ từ tắm từ trên xuống.
-         Không được tắm gội thô tháo làm nước vung nhằm người khác.
-         Không được tiểu tiện trong phòng tắm.
2.      Phải tránh sự gây hiềm khích.
-         Không được rửa chỗ kín.
-         Nếu có ghẻ lở mụn nhọt nên tắm sau chúng.
-         Hoặc có ung nhọt (ung thư) đáng sợ càng nên tránh để khỏi gai mắt người.
-         Không được cố ý tắm lâu làm cản trở người khác muốn tắm.
Phần thứ hai nói các oai nghi bổ khuyết.
-         Cởi áo, mặc áo nên thong thả nhẹ nhàng.
-         Trước khi tắm phải tẩy tịnh (rửa chỗ khuất).
-         Khi tẩy tịnh phải giữ tế hạnh, không được làm nước tẩy tịnh rơi vào bồn chứa nước tắm.
-         Nếu cần nước nóng hoặc lạnh nên y lệ mà đánh bảng, nhưng không được đánh bảng quá lớn.

* YẾU GIẢI
Phòng tắm là nơi cần phải giữ vệ sinh liên tục, nếu phòng tắm mất vệ sinh thì sẽ gây bệnh hoạn cho những người yếu khi vào tắm.
Bởi thế tất cả chúng Tăng mỗi cá nhân đều phải tự ý thức giữ gìn. Không để quần áo, khăn tắm chưa giặt trong phòng tắm làm xú khí độc hại. Tắm xong phải nhìn lại phòng tắm đã sạch sẽ chưa trước khi đi ra. Xem thau chậu đã úp chưa, đừng để người vào tắm sau phiền não mà tổn phước.
Theo đại luật chỉ dẫn việc tắm rất kỹ càng, chúng ta cần phải thận trọng lưu tâm đừng cho là việc tế toái. Đây cũng là nét văn minh văn hóa mà thiền môn không thể xem thường.

Tổng quát thiên thứ 13: VÀO NHÀ XÍ
Thiên này chia 2 phần.
Phần thứ nhất nói 3 oai nghi chính:
1.      Tri thời cập thời và giữ oai nghi.
-         Muốn đại tiểu tiện phải đi liền đừng để trong bức xúc phải gấp gáp.
-         Cởi áo ngoài (áo tràng, áo nhật bình) vắt lên sào tre phải ngay ngắn, lấy khăn tay hoặc dây lưng buộc lại, một là để dễ nhìn nhận hai là để khỏi rơi xuống đất.
-         Phải đổi giày dép để đi vào nhà xí.
2.      Trong nhà xí phải giữ tâm ý.
-         Trước khi vào nhà xí phải gảy móng tay ba lần để báo cho người trong biết nếu có (có hay không cũng phải giữ lệ).
-         Không được hối thúc người ở trong mau ra.
-         Vào nhà xí xong trước khi đi đại tiểu tiện lại phải gảy móng tay ba lần nữa và giữ gìn tâm ý mặc niệm bài kệ:
                        Đại tiểu tiện thời,
                        Đương nguyện chúng sanh
                        Khí tham sân si
                        Quyên trừ tội pháp
                        Án ngận lỗ đà da tóa ha.
-         Không được cúi đầu nhìn xuống.
-         Không được viết vẽ xuống nền hoặc lên tường.
-         Không được rán hơi ra tiếng.
-         Không được cách tường cùng người nói chuyện.
-         Không được khạc nhổ vào tường.
3.      Không nên xem thường về sự và lý mà bị lỗi.
-         Đại tiểu tiện xong đi ra gặp người khác nhất là các vị lớn không nên chào hỏi mà nên tránh né một bên để đi.
-         Không được vừa đi vừa buộc dây áo quần.
-         Đại tiểu tiện xong phải rửa tay thật sạch, chưa rửa thì không được cầm nắm vật khác.
-         Khi rửa tay mặc niệm bài kệ:
Dùng nước rửa tay
Xin nguyện chúng sanh,
Được tay trong trong sạch,
Thọ trì Phật pháp,
Án chủ ca ra da tóa ha.
Phần thứ hai nói về các oai nghi phụ:
-         Nếu đi tiểu tiện phải vén tay áo và rửa tay sạch sẽ.
-         Không được mang áo tràng hoặc nhật bình khi tiểu tiện.


* YẾU GIẢI:
Quan phần chánh văn ta thấy Đức Bổn Sư đối với hàng đệ tử chúng ta, không một hành động cử chỉ nào mà ngài không để ý lưu tâm, cho dù những việc nhỏ nhặt bình thường ngài cũng chỉ dạy tận tường. Qua thiên này chúng ta thấy Đức Bổn Sư muốn dạy chúng ta, trọng mọi thời gian hoàn cảnh nào cũng thế, người xuất gia học đạo cần phải giữ oai nghi tế hạnh, đừng xem thường bất cứ một cử động nào mà không nhiếp niệm quán tưởng tấn tu. Hơn thế nữa những điều dạy trong thiên nầy dù ngôn ngữ dùng để diễn đạt cho bối cảnh xa xưa, nhưng so với nền văn minh hiện đại cũng chỉ đạt đến hai phần ba theo phép vệ sinh là cùng, cho nên chúng ta phải thận trọng hành vi và phong thái sống của mình.

Tổng quát thiên thứ 14: NẰM NGỦ
Thiên này chia làm hai phần (gồm 7 việc).
Phần thứ nhất nói 2 oai nghi chính:
1.      Nằm ngủ phải giữ oai nghi như Pháp
-         Nằm ngủ phải nghiêng về hông phải.
-         Không nên nằm ngửa.
-         Không nên nằm sấp.
-         Không nên nằm nghiêng về hông trái.
2.      Phải biết vị trí và giữ tôn ty khi nằm ngủ.
-         Không được nằm ngủ chung phòng, chung giường với Thầy, có thể cho phép nằm chung phòng nhưng không nằm chung giường.
-         Không được ngủ chung giường với Sa Di.
-         Trong phòng ngủ giày dép và tiểu y (áo lót) không được treo quá đầu.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ.
-         Không được cởi áo để nằm ngủ.
-         Không được trên giường ngủ nói cười lớn tiếng.
-         Không được trước thánh tượng và nơi pháp đường mang dụng cụ đựng đồ uế trược đi qua.
* YẾU GIẢI:
Nằm ngủ nghiêng hông về bên phải là Pháp do Thế Tôn chế ra, qua kinh nghiệm bản thân có lợi ích mà Ngài chỉ dạy. Ngài dạy nằm ngủ nghiêng về bên phải là cát tường thùy, khi nằm xuống giữ tâm ý thanh tịnh, nghiêng về hông phải, tay phải làm gối đầu, tay trái duỗi thẳng theo chân, tâm niệm hướng về Tam Bảo thì ngủ sẽ an giấc và không có ác mộng.
Theo Kinh Bảo Lương: Nằm ngửa là cách ngủ của A Tu La, nằm sấp là cách ngủ của Ngạ Qủy, nằm nghiêng bên trái là cách ngủ của kẻ tham dục, nằm nghiêng bên phải là phương pháp tốt nhất của người xuất gia đệ tử Phật, chúng ta nên thực hành thì sẽ thấy kết quả an lạc cho thân tâm.

Tổng quát thiên tứ 15: QUANH LÒ LỬA
Thiên này chia 2 phần (gồm 4 việc):
Phần thứ nhất nói khi ngồi lửa nên lưu ý tránh sự hiềm khích.
-         Không được giao đầu tiếp nhĩ nói chuyện lung tung.
-         Không được gẩy cáu bẩn trong móng tay vào lửa.
-         Không được hong hơ giày dép.
Phần thứ hai nói khi ngồi lửa phải tự xét.
-         Không được ngồi quá lâu làm choáng chỗ người khác muốn ngồi.
-         Vừa được ấm thì phải tức thời đứng dậy về chỗ của mình ngay.

* YẾU GIẢI:
Ngày xưa Đức Phật chế ba y để thích ứng ba mùa của xứ Ấn Độ. Song Phật Pháp thời diêu, truyền qua Đông Độ phong thổ không đồng, đạo tâm di mại, chư Tổ phải phương tiện tùy nghi tùy chế để thích ứng với căn cơ chúng sinh trong thời mạt Pháp. Tuy vậy, dù phương tiện quyền khai thế nào đi nữa, các ngài cũng không quên nhắc nhở những hạnh lành và luôn coi trọng thời gian là vàng ngọc cho việc tấn tu. Đại Luật có dạy: “Khi ngồi lửa không được gãi đầu làm gàu và tóc rơi vào lửa, không nên khạc nhổ vào lửa, không được bỏ móng tay, da dẻ và các thức ăn vật uống cũng như các loại độc dược khác vào lửa”. Trong Thanh Quy có nói: Không được khi ngồi lửa khêu tro là bụi tung lên hại đến mắt mình và người. Ở Tục Tạng có dạy rằng: Ngồi lửa có năm điều hại: 1. Nhan sắc hư hoại. 2. Khí lực bị giảm. 3. Dễ bị bệnh mờ mắt. 4. Dễ phát sinh tâm trạo cử. 5. Là cơ hội để bị lỗi bàn luận thị phi. Chúng ta nên cẩn thận suy ngẫm lời Phật Tổ, đừng cho là việc thường không dính dấp với thời đại mà có lỗi.

Tổng quát thiên thứ 16: Ở TRONG PHÒNG
Thiên này chia hai phần (gồm 6 việc):
Phần thứ nhất cần giữ thái độ kính trọng nhau:
-         Ở chung phòng phải giữ tôn ti trật tự và vấn tấn nhau.
-         Muốn thắp đèn hay tắt đèn phải báo trước với mọi người.
-         Tắt đèn không được dùng miệng để thổi.
-         Niệm Phật, tụng kinh không nên to tiếng.
Phần thứ hai giữ tâm thỉ chung với nhau:
-         Nếu có người bệnh phải chăm sóc chu đáo thỉ chung và luôn luôn khởi tâm từ khi săn sóc bệnh.
-         Nếu người đang ngủ không nên động chạm vật dụng và to tiếng nói cười.
-         Không nên vô cớ đi vào phòng khác.

* YẾU GIẢI:
Là người xuất gia, miến ly hương đảng thế phát thế bẩm sư thì nội cần khắc niệm chi công ngoại hoằng bất tránh chi đức. Lấy Phật làm cha, lấy Pháp làm mẹ, Thầy Tổ đạo bạn là thân bằng quyến thuộc. Thế nên chúng ta phải thật sự thương mến bảo ban cho nhau để cùng nhau hướng đến một mục đích chung là giải thoát, giác ngộ. Song thực tế thì không dễ gì, vì tự ngã còn y sì, tha nhân chưa đồng nhất. Bởi thế mà trong sự tương giao hàng ngày, chúng ta lắm lúc vô tình làm đánh mất cái thực tại trước mắt là đối tượng gần nhất hỗ trợ sự giải thoát cho chúng ta. Chúng ta đừng cho là tình tiết tế toái mà quên mất sự lợi ích thiết thực của nó.

Tổng quát thiên thứ 17: ĐẾN CHÙA NI (Ni ngược lại)
Thiên này chia hai phần (gồm 10 việc).
Phần thứ nhất nói 2 oai nghi chính:
1.      Đến chùa ni phải giữ oai nghi và tránh hiềm nghi.
-         Có chỗ ngồi riêng mới được ngồi, không có không ngồi.
-         Không nên thuyết pháp vi thời do nể vì.
-         Về chùa không được nói chuyện tốt xấu của ni.
2.      Tránh nghi nan
-         Không nên thư từ qua lại và nhờ cắt may giặt rửa.
-         Không được tự tay thế phát cho ni.
-         Không được cùng ni ngồi chỗ khuất.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ
-         Nếu không có hai người không nên đơn độc đến chùa ni.
-         Không được trao tặng quà cáp lễ vật cho nhau.
-         Không được cậy nhờ ni đến nhà đàn việt giàu có để hóa duyên và xin tụng niệm kinh sám…
-         Không được cùng ni kết thân làm cha mẹ, chị em, bạn bè.
(Ni ngược lại)

* YẾU GIẢI:
Là Sa Di không được tự tiện đơn độc đến chùa ni, nếu có việc Thầy sai đi khi đến phải giữ gìn oai nghi, nhiếp niệm, không được đi dạo quanh, không được xuống nhà trù, các cô hỏi điều gì thì trả lời nghiêm túc, không được vừa nói vừa cười. (Ni ngược lại).





Tổng quát thiên thứ 18: ĐẾN NHÀ NGƯỜI
Thiên này chia 2 phần (gồm 21 việc).
Phần thứ nhất nói bốn oai nghi chính:
1.      Phải quán cơ để thuyết giáo:
-         Có chỗ ngồi riêng mới được ngồi.
-         Người có hỏi Kinh phải quán cơ và biết thời, cẩn thận chớ nên nể vì mà thuyết Pháp phi thời.
2.      Luôn giữ oai nghi và nghiêm trì luật chế.
-         Không được cười nhiều.
-         Chủ nhân mời thọ thực tuy không phải nơi Pháp hội nhưng đừng để mất oai nghi phép tắc của mình.
-         Không đến nhà người vào ban đêm.
-         Không được trong phòng không có người hoặc ở chỗ khuất kín cùng với người nữ nói chuyện. (Ni ngược lại).
-         Không được thư từ qua lại…đồng thiên trước.
3.      Đủ oai nghi để tha nhân phát tín tâm.
-         Nếu về nhà thăm thân quyến, trước hết phải vào gian nhà giữ lễ Phật hoặc thánh tượng trong gia đường, hỏi han thăm viếng chu đáo theo tôn ti. Trước hết hỏi thăm cha mẹ rồi đến anh chị em, bà con thân quyến nội ngoại, mỗi mỗi đều phải ân cần.
-         Không nên về nhà cha mẹ nói chuyện Thầy nghiêm, sự khó khăn, tân khổ, buồn bã ảm đạm trong cuộc sống của người xuất gia…Nên vì cha mẹ mà nói chuyện Phật Pháp để cha mẹ tăng phát niềm tin Tam Bảo.
4.      Luôn luôn nhiếp niệm.
-         Không được cùng trẻ con, thân quyến đứng ngồi nói chuyện nhảm nhí và cười giỡn lâu. Cũng không nên hỏi chuyện tốt, xấu, vui, buồn, phải, trái trong thân tộc.
-         Nếu trời tối phải ở lại đêm, nên ở nơi độc lập, có giường riêng, ngồi nhiều nằm ít, nhất tâm niệm Phật, việc xong nên về không được nán ở lại.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ
1.      Khua tà niệm hiển chánh tâm.
-         Không được liếc ngó hai bên bằng tâm bất chánh.
-         Không nói chuyện nhảm nhí.
-         Không nên nói nhỏ lời thấp tiếng và nhiều lời với nữ nhân. (Ni ngược lại).
-         Không được trá hiện oai nghi, giả trang thiền tướng để mong được sự cung kính.
-         Không được dối trá Phật Pháp, trả lời biện bác lung tung để họ nghĩ mình là đa văn học rộng với mục đích mong sự cung kính.
2.      Xa rời ác hạnh.
-         Không được biếu tặng quà cáp học theo thói xã giao qua lại của bạch y.
-         Không nên cai quản việc nhà người.
-         Không được ngồi la cà nơi quán rượu.
-         Không được kết bái làm cha mẹ chị em với hàng bạch y.
-         Không nên nói lỗi trong Tăng cho hàng bạch y nghe.

* YẾU GIẢI:
Người xuất gia và hàng tại gia mỗi bên đều có nề nếp và cốt cách riêng biệt. Người xuất gia cuộc sống được gọi là nghịch lưu, nói cách khác cuộc sống của người xuất gia là ngược với dòng đời chứ không cách ly đời. Bởi thế, có khi phải liên hệ qua lại, nhưng cần phải luôn luôn tỉnh giác chánh niệm, cẩn thận oai nghi giao tiếp, đừng quá tùy duyên mà bị duyên biến. Phải nhớ mọi hành vi của người xuất gia không vượt ngoài mục đích tự độ độ tha, không phân biệt thân sơ quý tiện mà phải đối đãi bình đẳng trên tinh thần trách nhiệm hướng đạo tha nhân. Luôn luôn chân thật, không dùng phù hoa mỹ ngữ để cuống hoặc thế nhân, không diễm khúc tình từ để lung long thiên hệ, không biện thông thế trí để giảng diễn đạo mầu, không phô trương kiến thức hòng mua chuộc lòng người mong cầu lợi dưỡng, không nên bởi mục đích riêng tư mà hành động ngược lại chánh giáo. Vì giải thoát tự thân và tha nhân, vì bảo trì Phật Pháp lưu bố giữa thế gian mà người xuất gia phải tiếp giao với cuộc đời và nhân thế. Nên nhớ rằng:” Vong thất Bồ Đề tâm, tu chư thiện pháp thị danh ma nghiệp”.


Tổng quát thiên thứ 19: KHẤT THỰC
Thiên này chia 2 phần (gồm 10 việc).
Phần thứ nhất nói những oai nghi chính:
-         Ra vào phải biết cấm chế.
-         Phải đi cùng với một vị tỳ kheo lão thành, nếu không có người cùng đi thì phải biết nơi nào cần có thể đi được.
-         Đến cổng nhà người phải quan sát kỹ hành động không được làm mất oai nghi.
-         Nếu nhà không có đàn ông thì không nên vào cổng.
-         Nếu ngồi hay nói năng phải thận trọng.
-         Muốn ngồi trước tiên phải xem xét chỗ ngồi, nếu có binh khí không nên ngồi, nếu có báu vật không nên ngồi, có y phục, mền nệm và đồ trang sức của phụ nữ không nên ngồi.
-         Muốn nói Kinh phải biết tri thời.
-         Không nên nói cho tôi đồ ăn để ngươi được phước.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ.
-         Phàm khất thực không nên cầu xin năn nỉ.
-         Không được phô diễn đạo lý nhân quả để trông mong họ bố thí nhiều hơn.
-         Được nhiều không nên sanh tâm tham trước, được ít chớ sanh lòng phiền não.
-         Không được thường xuyên đến nhà thí chủ thân tình hoặc am viện thân tình để yêu sách thực vật.

* YẾU GIẢI:
Khất thực là pháp môn tu tập theo truyền thống mà Tam thế chư Phật đã hành trì, là pháp môn mang nhiều ý nghĩa và lợi lạc cho tự thân và tha nhân trên tiến trình đi đến giải thoát giác ngộ. Nhưng Phật Pháp thời diêu, phải tùy nghi thích ứng nên ngày càng bị biến thái không còn nguyên vẹn bản sắc của thời nguyên thủy. Chúng ta sanh nhầm thời đại mạt pháp, thế bại vận suy. Bối cảnh và phong thủy không cho phép chúng ta khác hơn được, chúng ta phải thấy là bạc phước vô phần, vì thế chúng ta phải hết sức tinh tế và luôn luôn cảnh tỉnh trong mọi môi trường của cuộc sống hằng ngày, mà chúng ta đang mệnh danh là tu sĩ, chúng ta phải khởi tâm tàm quý khi thọ nhận thực vật, cũng như mọi nhu cầu khác mà đàn việt đã đặt niềm tin để cúng thí cho chúng ta. Chúng ta phải cố gắng bằng khả năng, trí tuệ, lòng chân thành để tu học và phụng đạo, ngỏ hầu đền đáp trong muôn một công ơn của Phật Tổ và khỏi cô phụ mối sơ tâm mà đã một lần chúng ta hoài bảo. Chúng ta phải nhớ rằng:
上乞法食以資慧命
下乞搏食以養色身。
Và chúng ta cũng phải nằm lòng lời Phật dạy:
譬如蜂采花
不壞色與香
但取其味去
比丘入聚然
不違戾他事
不觀作不作
但自觀身行
若正若不正。




Tổng quát thiên thứ 20: NHẬP TỤ LẠC
Thiên này chia hai phần (gồm 17 việc).
Phần thứ nhất nói ba oai nghi chính:
1.      Đừng mất oai nghi khi vào tụ lạc.
-         Không có duyên sự không nên vào.
-         Không được đi mà lay động hai cánh tay.
-         Không được vừa đi vừa liếc nhìn hai bên.
2.      Giữ gìn chánh niệm
-         Vào tụ lạc không cùng Sa Di và trẻ con vừa đi vừa nói chuyện đùa giỡn.
-         Không được cùng với người điên trước sau đắp đổi nhau mà đi.
-         Không được cố ý nhìn phụ nữ (Ni ngược lại).
-         Không được nhìn phụ nữ bằng một bên khóe mắt.
3.      Vào tụ lạc phải tâm thành thân chánh.
-         Hoặc gặp các bậc tôn túc hoặc thiện tri thức thân tình đều phải đứng một bên thấp hơn và thăm hỏi trước.
-         Hoặc gặp nơi có những trò chơi ảo thuật kỳ quái…không nên dừng lại để xem.
-         Nên thẳng mình ngay đường mà đi.
-         Nếu gặp hố nước bờ lở thì không được nhảy qya, có đường đi kahcs thì nên vòng qua để đi, nếu không có đường khác mà mọi người nhảy thì mình được nhảy.
-         Không phải bệnh duyên hoặc việc gấp của Tam Bảo thì không được cưỡi ngựa, cho đến tâm đùa giỡn dùng roi để giục ngựa chạy đều không được.
Phần thứ hai nói những oai nghi phụ:
-         Phàm gặp các hàng quan lại phủ phòng (chính quyền).
-         Gặp những đám đấu đá cũng phải tránh xa, không được đứng lại xem.
-         Không được về chùa khoe những việc tốt đẹp đã thấy trong thành.


* YẾU GIẢI
Khi tu sĩ có việc phải đi vào thành, phải luôn luôn nhiếp niệm cảnh giác đừng để mất oai nghi. Để tránh mọi sự có thể hiểu lầm và tổn hại đến cá nhân hoặc danh dự của tăng sĩ, cần phải lưu ý những điều:
-         Đừng song hành với người nữ. (Ni ngược lại).
-         Không nên đi quá nhanh (nếu đi xe cũng vậy).
-         Không được mạo hiểm để khoe tài năng.
-         Tránh xa mọi nơi có cá cược du hý.
Điều nên lưu ý là không nên đem những chuyện thấy nghe ngoài đường về chùa nói lại. Nên nhớ lời Phật dạy: “Đừng đem lửa ngoài đường vào nhà và cũng đừng đem lửa trong nhà ra ngoài đường”.


Tổng quát thiên thứ 21: ĐI CHỢ MUA VẬT DỤNG
Thiên này chia làm hai phần (gồm 5 việc):
Phần thứ nhất nói đi chợ nên theo giá thị trường và tránh sự hiểu lầm.
-         Không được trả giá đắt rẻ.
-         Không ngồi ở hàng phụ nữ. (Ni ngược lại).
-         Nếu bị người muốn gây sự thì cần tránh né không nên tranh cãi.
-         Không được đi theo mà trả giá cả.
Phần thứ hai là phải thủ tín và tránh những điều có thể hiểu lầm.
-         Phàm hứa mua vật gì ở chỗ nào rồi thì nên giữ đúng lời nói, chớ có đem vật ấy đi so giá cả đắt rẻ làm cho chủ hàng sân hận.
-         Không nên bảo lãnh cho người khác trong sự việc có thể mắc họa.

* YẾU GIẢI:
Thị tứ là nơi có rất nhiều vấn đề phức tạp, nếu chúng ta có việc cần phải vào thì nên cẩn thận, đừng để mất oai nghi. Không nên vì những chuyện không đâu mà dễ duôi làm gây ngộ nhận, nếu gặp điều thị phi ngang trái nên đừng xen vào mà rước họa vào thân một cách vô ích, luôn luôn giữ gìn ba nghiệp đừng để bản năng sai khiến mà hại cả đạo lẫn đời.

Tổng quát thiên thứ 22:
PHÀM LÀM VIỆC GÌ KHÔNG NÊN TỰ Ý
Thiên này chia làm hai phần (gồm 11 việc):
Phần thứ nhất nói hai oai nghi chính:
1.      Không nên tự chuyên làm việc.
-         Ra vào đi lại phải bạch Thầy trước.
-         May pháp y mới phải bạch Thầy trước.
-         Cạo đầu phải bạch Thầy trước.
-         Bệnh uống thuốc phải bạch Thầy trước.
-         Làm việc chúng Tăng phải bạch Thầy trước.
-         Muốn có những dụng cụ riêng phải bạch Thầy trước.
-         Nếu muốn tụng Kinh gì phải bạch Thầy trước.
2.      Nhận và cho vật gì đều phải xin ý kiến Thầy.
-         Nếu ai đem cho mình vật gì phải bạch Thầy trước rồi sau mới nhận.
-         Phàm đem cho ai vật gì cũng phải bạch Thầy trước rồi sau mới cho mượn.
-         Khi bạch Thầy, Thầy có chấp nhận hay không đều phải tác lễ chứ không tỏ thái độ bất mãn giận hờn.
Phần thứ hai nói các oai nghi phụ:
-         Cho đến làm những việc lớn, đi xa, đi nghe giảng, hoặc nhập chúng, giữ núi hoặc khởi duyên sự đều phải bạch Thầy không nên tự ý.

* YẾU GIẢI
Là Sa Di khi muốn ra làm bất cứ việc gì cũng phải qua ý kiến của Thầy trước rồi mới ra làm. Vấn đề này có 2 ý:
1.      Nói lên tinh thần cần phải có của người xuất gia học đạo là hạnh khiêm cung và giữ gìn nề nếp tôn ti trật tự của thiền môn.
2.      Vì Sa Di bản nghiệp chưa thành, tuổi đạo, đời còn thấp, kiến thức chưa rộng, đạo niệm chưa bền, nếu tự động đi ra làm một việc gì mà không có ý kiến của các bậc tôn túc, trưởng thượng thì dễ đi đến chỗ tổn hại hơn là thành tựu tốt đẹp. Hơn nữa chúng ta phải tự thấy long kiêu căng, ngã mạn còn đầy ắp mà tánh đạo thì đang bị vùi sâu trong bình keo sơn hắc kín. Bởi thế chúng ta đừng tự cao tự đại mà vọng động, phải cố gắng thận trọng và nghiêm chỉnh thực hành những điều mà tâm Phật và ý Tổ đã vì chúng ta mà dạy bảo. Chúng ta phải nhìn nhận rằng, cái nghe và cái biết của chúng ta chỉ là cái nghe và cái biết của con ếch ngồi trong đáy giếng mà thôi.
-         May pháp y phải bạch Thầy trước là để Thầy xem xuất xứ đáng nhận hay không.
-         Giữ núi: Chỉ người tri viên.
-         Nhập chúng: Đi vào những nơi có đông đảo chúng Tăng vân tập.

Tổng quát thiên thứ 23: THAM PHƯƠNG
Thiên này chia hai phần (gồm 5 việc):
Phần thứ nhất nói những điều tất yếu của việc đi xa.
-         Đi xa cần nương bạn tốt, người xưa khi tâm địa chưa thong thì không ngại đường xa nghìn dặm quyết đi tìm Thầy học đạo.
Phần thứ hai nói các oai nghi phụ có hai:
1.      Phải vì cầu Pháp chứ không theo thói thường tình.
-         Tuổi nhỏ vì giới luật còn non chưa thể cho đi xa, nếu cần phải đi thì không được đi với người bất lương.
-         Phải vì mục đích tìm Thầy học đạo quyết trạch sanh tử, không nên nhìn non ngắm nước, không nghĩ đến chuyện du lịch đó đây để khoe khoang với người.
2.      Phương pháp khi đến nơi.
-         Khi đến nơi rồi thì buông bỏ hành lý, không được đường đột đi thẳng vào điện đường. Để lại một người coi hành lý, một người đi vào trước thăm hỏi và dò xem cung cách sinh hoạt của trú xứ thế nào, sau đó mới đem hành lý vào.

* YẾU GIẢI:
Nếu đúng Pháp thì Sa Di không được rời Thầy quá sớm. Nhưng nới đây Thầy không cho Pháp mà chỉ nuôi thân thì được phép đi xa tìm Thầy hỏi đạo. Nhưng khi đi phải cần có thiện hữu đi cùng. Không được đi cùng bạn ác (cùng xuất gia nhưng không đủ tư cách thiếu hạnh). Chỉ có một mục đích duy nhất là tìm Thầy học đạo chứ không vì lý do nào khác. Khi đến chỗ nào phải biết hòa đồng theo thanh quy nơi ấy, không nên sống theo bản năng của cá tính mà gây phiền não cho đồng đạo. Phải nhớ kỹ là: “ Sư nhược bất minh đương biệt cầu lương đạo”, ngoài ra thì mọi sự ra đi rời Thầy sớm đều không phải phép và không có lợi.

Tổng quát thiên thứ 24: DANH TƯỚNG Y BÁT
Thiên này chia 3 phần (gồm 9 việc)
I.             Danh tướng của y có 3 loại.
1.      Ngũ y có 2 phần
a.      Tướng dụng của ngũ y
Ngũ điều y tiếng phạn gọi là An Đà Hội (Untarvasa). Tàu dịch là Trung túc y, là hạ y, tạp tác y hay tác vụ y. Phàm mọi sự chấp lao phục dịch trong chùa, ra vào ngoài đường đều mặc y này.
b.      Kệ chú
Lành thay áo giải thoát, y phước điền vô thượng, con nay được thọ trì, đời đời không lìa bỏ. Án tất đà da tóa ha.
2.      Thất y có 2 phần
a.      Tướng dụng của thất y
Thất y tiếng Phạn gọi là Uất Đa La Tăng (Ultrasanga). Tàu dịch là nhập chúng y, thượng trước y, trung giá y. Phàm lễ Phật, tụng kinh, bái sám, tọa thiền, phó trai, nghe giảng, bố tát, tự tứ thì đắp y này.
b.      Kệ chú
Lành thay áo giải thoát, y phước điền vô thượng, tôi nay xin thọ trì, đời đời thường đặng đắp. Án độ ba độ ba tóa ha.
3.      Đại y có 2 phần
a.      Tướng dụng của đại y
Đại y tiếng Phạn gọi là Tăng Già Lê (Sanghathi). Tàu dịch là tạp toái y, hợp y, trùng y, khi ra vào vương cung, thăng tòa thuyết pháp, vào tụ lạc khuất thực thì mặc y này. (Y này còn gọi là Ngự hàn y). Y này chia 9 phẩm: Hạ phẩm có 9 điều, 11 điều và 13 điều. Trung phẩm có 15 điều, 17 điều và 19 điều. Thượng phẩm có 21 điều, 23 điều và 25 điều.
b.      Kệ chú
Lành thay áo giải thoát, y phước điền vô thượng, con nay xin thọ trì, rộng độ chư quần mê. Án ma ha ca bà ba tra tất đế tóa ha.
II.         Danh tướng của bát có 3 phần
1.      Nêu danh:
Tiếng Phạn gọi là Bát Đa La (Pa Tra). Tàu dịch là ứng lượng khí, khí mảnh này cả 3 mặt thể, sắc, dụng đều phải như Pháp.
2.      Thích nghĩa:
            Thể chất của bát được làm bằng hai loại đất và thiết. Đất là chính, thiết Phật khai cho các tỳ kheo già và bệnh dùng. Màu sắc thì phải nhuộm bằng cách xông lá cây thành màu nâu hay màu xám tro. Dung lượng thì có 3 cỡ lớn, vừa, nhỏ.
3.      Kệ chú:
            Lành thay Bát đa la, ứng khi của như lai, thọ trì để nuôi sống, tăng trưởng trí tuệ mạng. Án chỉ rị chỉ rị phạ nhật ra hồng phấn tra.
III.      Danh tướng của ngọa cụ có 3 phần
1.      Nêu danh:
Tiếng Phạn gọi là Ni Sư Đàn (Nisidana). Tàu dịch là ngọa cụ hoặc tọa cụ, còn gọi là phu cụ hay tùy túc y.
2.      Công dụng:
Để hộ thân, hộ y.
3.      Kệ chú:
Ngọa cụ ni sư đàn, nuôi lớn tâm giống tánh, trãi bày lên thánh địa, vâng giữ mạng mạch Như Lai. Án đàn ba đàn ba tóa ha.
IV.       Kết luận
Ngày xưa Đức Thế Tôn thường dạy: “Tài sản của người xuất gia là ba y, ngõa bát và pháp khí”. Ba y là cái mặc của tu sĩ, bình bát, pháp khí và thọ hạ nhất túc là cái ăn cái ở của hàng xuất gia, ngoài ra không có một phương tiện nào khác. Phật dạy như vậy tri túc là thường túc. Đạo pháp được liên tục lan tỏa khắp muôn phương. Phật chủng vẫn tiếp nối khơi dậy nơi mỗi lòng người là nhờ hàng đệ tử Phật nghiêm trì lời Phật dạy:
Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Kỳ vị sanh tử sựH
Giáo hóa độ xuân thu.
Ngày nay có khác, người xuất gia phải tùy phong thổ và quốc độ mà thích nghi nếp sống. Cơm chẳng thiếu, áo có thừa và phương tiện sống thì quá xa vời với Phật ý. Hành vi ngôn ngữ thì càng không giống chi với Tổ tâm.
Ngẫm suy kinh điển, xét lại phong tư thì chúng ta thấy mạt không biết bao nhiêu thứ mạt. Chúng ta đừng vòng vo bao la vũ trụ, khoan nói chuyện PHẬT TÁNH với CHÂN NHƯ, mà hãy nhìn vào nơi tự thân của mỗi chúng ta qua ba nghiệp, chúng ta phải thường kiểm soát hay nói cách khác những oai nghi tế hạnh chúng ta thường tấn tu. Nếu không thì hiện tại cả mình và người đều bất lợi, tương lai khó thoát  quả báo mang lông đội sừng để bồi thường ơn của đàn na tín thí vậy.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.23/11/2015.

No comments:

Post a Comment