Monday, April 2, 2018

Hành trang của người xuất gia: Ðức hạnh & trí tuệ.





image
 Trong Phật pháp có nhiều pháp môn và pháp môn nào cũng được diễn đạt qua các bộ kinh. Người tu Đại thừa thường chọn các bộ kinh lớn như Pháp hoa, Hoa nghiêm, Bát-nhã để lập chí tu hành.
Riêng tôi, vào đạo bằng con đường Bát-nhã, nghĩa là làm sao quét sạch được phiền não nhiễm ô. Tất cả mọi hiện hữu coi như không có, để tâm chúng ta đứng yên. Đó chính là hướng vào đạo của người xả tục xuất gia, an trú Bát-nhã, bỏ ý thức sở hữu, kể cả thân mạng của mình cũng không màng, dẹp sạch trần cấu. Người tu ở bước ban đầu cầu đạo phải lập chí như vậy.
Và qua giai đoạn hai, lòng chúng ta không nghĩ đến sở hữu riêng tư thì giới thân, huệ mạng bắt đầu xuất hiện. Các Tỳ-kheo tu hành khác nhau và hơn nhau ở giới thân huệ mạng, không phải hơn ở chùa cao Phật lớn, tu lâu hay mới tu. Vì người tu có trí tuệ và đức hạnh mới thực sự tiêu biểu cho đạo.
theravada-buddhism.jpg
Con đường an vui
Khi đạt được trí tuệ Bát-nhã, quét sạch phiền não nhiễm ô và đức hạnh được sanh ra, khi đó Báo thân của Bồ-tát thành tựu và người này đến đâu đều làm lợi ích cho dân chúng nơi đó, mang an lành cho họ.
Người xuất gia phải nỗ lực rèn luyện đức hạnh ở giai đoạn đầu. Đối với tôi, điều này nghĩa là trên bước đường tu, chúng ta phải lần lần chuyển thân tứ đại thành Pháp thân. Chuyển bằng cách nào?
Đức Phật dạy trong kinh Hoa nghiêm rằng nhứt thiết duy tâm tạo. Tâm tạo nên Phật, Bồ-tát, Thánh Hiền và cũng tạo nên ma quỷ. Chúng ta cần hiểu ý này để ứng dụng trong cuộc sống.
Trên bước đường tu, sơ tâm nhập đạo, phải làm cho tâm đứng yên, đừng cho tâm khởi theo vọng trần. Nói cách khác, chúng ta tu thiền định trước và tu quán sau.
Riêng tôi, thường đặt một vật trước mặt làm đối tượng để tập trung và hay tạo cảnh để quán sát, tu hành. Pháp tu này tôi cũng thấy các Thiền sư Nhật Bản thường áp dụng.
Thí dụ, trong phòng, họ trồng cây tùng trên hòn đá trong một bể nước nhỏ. Mặc dù cây tùng nhỏ xíu, nhưng tuổi thọ của nó đến 300, 400 năm do Tổ sư của họ đã trồng. Đó là đối tượng để Thiền sư quan sát. Nhìn cây tùng sống trên hòn đá đơn sơ mà nghĩ đến Tổ, đến thầy và nhận ra công phu tu hành của bậc tiền bối. Tổ và thầy đã từng quán sát cây cảnh này mà đắc đạo. Nay đến phiên họ, cũng tiếp tục pháp quán sát này.
Cây tùng sống hàng trăm năm, hay thực tế cuộc sống tu hành từ thời chư Thiền Tổ cho đến thời của họ, đã trải qua ba đời, từng thế hệ nối tiếp nhau hành đạo, tạo thành sức sống Phật pháp tồn tại, lợi lạc cho đời.
Cây tùng sống mấy trăm năm trên hòn đá không cần phân, đất gợi chúng ta liên tưởng đến bậc Thiền Tổ đắc đạo, không cần ăn uống như người thường, chỉ ăn pháp, hay sống với pháp Không của Như Lai, chứng được tuệ giác. Pháp Không của các ngài hiện hữu trong tuệ giác, không phải Không là trống không. Từ đó, các nhà sư tu không cần gì, không có gì, nhưng không ai hơn họ. Họ bỏ tất cả để được tất cả, không phải bỏ rồi trắng tay.
Tùng ăn đá, sống mấy trăm năm, nên chùa thường được gọi là tùng lâm. Mỗi vị Thiền sư được tiêu biểu như một cây tùng sống cao thượng, vượt hơn người bình thường, không kẹt ăn uống hay bất cứ thứ gì.
Ngoài ra cây tùng xanh tươi bốn mùa tiêu biểu cho sức sống của Tỳ-kheo. Tỳ-kheo thì không được buồn giận, gặp bất cứ hoàn cảnh nào, lòng vẫn hoan hỷ, thanh thản, giống như cây tùng luôn luôn xanh biếc, dù đứng trong giá lạnh, băng tuyết mùa đông.
 Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông lên Yên Tử tu, Ngài bảo người xuất gia lên đó, mỗi người trồng một cây tùng. Đến nay, vẫn còn những cây tùng tuổi thọ đến 700, 800 năm từ thời Ngài để lại.
Tùng sống trên đá, có cây sống cả vạn năm, nên gọi là vạn niên tùng. Nhật gọi là La-hán tùng, nghĩa là ví cuộc sống thanh đạm của người tu giống như cây tùng. Vì vậy, cuộc sống kiểu mẫu của Thiền sư là ăn ít, nhưng khỏe mạnh và tuổi thọ cao.
Thiết nghĩ theo tinh thần này, ngày nay chúng ta nên bớt ăn thực phẩm nấu nướng, nên ăn trái cây hoặc ăn một bát cơm đơn giản, nhưng không có độc tố, thường gọi là cơm La-hán, có gạo, đậu, mè, mà vẫn khỏe mạnh.
Thật vậy, thử nghĩ các sư ở Thiếu Lâm tự đâu cần ăn uống cầu kỳ, không ăn nhiều, nhưng phải công nhận là sức mạnh và sự nhanh nhẹn của họ thật không ai bằng.
Quan trọng của người tu là biết cách tiếp thu không khí để giúp cho cơ thể khỏe mạnh. Rõ ràng không khí là thức ăn và hơi thở là sức sống chính của con người.
Đức Phật cũng từng dạy mạng sống của chúng ta tùy thuộc ở hơi thở. Vì vậy, nếu chúng ta hít toàn không khí dơ bẩn thì bệnh sanh, phải mau chết. Xưa kia, Đức Phật đi du hóa, Ngài ít ở trong đền đài cung điện, mà thường ngồi dưới gốc cây trong khu rừng, nơi đó không khí trong lành hơn. Ngày nay, chúng ta tu thiền, nếu luyện tập được nhịp thở, chắc chắn chữa được nhiều bệnh.
Quán sát cây tùng chỉ ăn đá và nước mà sống lâu, gợi chúng ta nghĩ đến thầy, Tổ định lực như thế nào, trí hạnh như thế nào và mình nỗ lực phấn đấu tu theo.
Và bể nước nhỏ (có cây tùng trong đó) mang hình dáng ra sao, tùy theo sáng kiến của Thiền Tổ. Chúng ta cũng lấy đó làm thoại đầu để quán sát. Bể nước làm chúng ta liên tưởng đến biển Pháp giới tánh của Hoa nghiêm, hay biển khổ sinh tử, điều đó tùy ở sự quán tưởng của ta. Nếu là biển khổ thì người ta thường xây hồ có mười hai cạnh, tiêu biểu cho mười hai nhân duyên tạo nên muôn vàn sự thọ nhận của thân và tâm chúng sanh trong vòng sinh tử luân hồi.
Người tu mượn cảnh để làm sống dậy tâm, nhìn nước trong mát, lòng ta mát theo là tâm thủy, hay nước và tâm trở thành một. Tất cả Thiền sư đều có đời sống theo ý nghĩa tâm thủy.
Thật vậy, nước không có hình dáng cố định, đựng vô ly thì có hình dáng của ly, để vô tô thì ra hình tô. Tâm người tu là nước, nên cũng không có khuôn cố định, ở đâu cũng được, gọi là tùy duyên. Người đời thường nói ở bầu thì tròn, ở ống thì dài, người tu tùy hoàn cảnh, tùy duyên mà sống; nếu muốn khác hơn, phiền não sanh ra liền.
Ngoài ra, tâm người tu là tâm thủy, nên đòi hỏi chúng ta phải có tâm dung hóa, sống hài hòa được với mọi người, mọi chỗ, tùy theo yêu cầu của người, đáp ứng lợi lạc cho họ, còn bản thân mình là nước trong, không cần gì. Được như vậy, mới có thể hành đạo dễ dàng.
Hoặc người tu đi vân thủy, tức đi hành đạo cũng theo tinh thần quán sát như trên. Vân là mây, thủy là nước, nước bốc hơi thành mây, mây tụ lại thành mưa rơi xuống. Người tu không trụ xứ, đi vân thủy, tự nỗ lực nâng con người chúng ta thành mây. Mây bay ngang núi, núi không cản được mây, nhưng mây bay qua rồi, núi vẫn như cũ, không bị hư hại gì.
Đức Phật nhắc các Tỳ-kheo vào làng cũng giống như vậy, ta không làm trở ngại việc của người và ngược lại, người cũng không làm vướng bận lòng ta, không phá hư được việc của ta. Luyện cho tâm ta như mây, như nước. Cái gì của trần thế bay qua rồi, trả lại cho trần thế, không tác động nhơ bẩn tâm ta. Tâm ta trong sạch, hoan hỷ tưới mát cho người bớt oi bức khổ đau, lo sợ. Quán sát và điều chỉnh tâm cho được nhẹ nhàng như mây, trong mát như nước để chúng ta tiến tu, phát huy đời sống tâm linh.
Hoặc quán sát hòn đá tiêu biểu cho người tu có tánh gan dạ, có sức chịu đựng mọi thử thách. Ở chùa Huê Nghiêm, tôi đặt các hòn đá trên bãi cỏ, mang ý nghĩa người tu phải có gan như đá, phải bị lăn, muốn lăn đâu thì lăn, nhưng đá vẫn là đá, hay tư chất của thầy tu không thay đổi, dù trải qua biết bao thử thách trên nhân gian.
Người tu sống trong cuộc đời, nếu không đủ gan, không vượt khó, không thể thành công việc lớn, vì cuộc đời này đủ thứ quái ác, lắm việc phiền hà, không đơn giản. Tuy nhiên, hòn đá của thầy tu phải không có góc cạnh, tức không làm phiền ai, không chống chỏi  ai.
Hòn đá đặt trong bể nước hay trên bãi cỏ trần gian nhắc chúng ta nhớ đến quá trình hành đạo của Thiền Tổ chất đầy sự chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, mới giữ vững được Phật pháp sống còn dài lâu.
Có Thiền sư bố trí cảnh vật khác, chẳng hạn như quét cát trong sân chùa, nhưng thực ra họ đang tu Thiền. Từ tâm hồn vắng lặng, thể hiện thành những dòng chổi quét cát, tạo thành những hình ảnh thực sống động trên sân cát, người trông thấy phải liên tưởng đến thế giới vô tác diệu lực của bậc chân tu giải thoát thực sự.
Tóm lại, đó là cách tu tạo cảnh, để luyện tập phát huy đời sống tâm linh theo hướng thánh thiện. Tùy theo hoàn cảnh và năng lực riêng của chính mình, mỗi người tự cân nhắc pháp tu tương ưng, thăng hoa trí tuệ và đức hạnh. Dùng trí tuệ và đức hạnh tu tạo được làm hành trang trên lộ trình giáo hóa người, đến nơi nào cũng đem an vui, lợi ích cho người, xứng đáng là đệ tử Phật, thay Ngài hiện hữu trên cuộc đời, mang an lạc cho chúng hữu tình.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH  THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM,AUSTRALIA,SYDNEY.4/3/2018.

"Bí ẩn" tài sản thiêng liêng của người xuất gia.

)

Nhiều phật tử nhìn thấy các nhà sư khoác áo cà sa, tay bưng bình bát nhưng không phải ai cũng hiểu được “bí ẩn” về hai tài sản thiêng liêng này của người xuất gia


Áo cà sa tượng trưng cho Đạo pháp

Chiếc áo cà sa (pháp phục) được xuất hiện sau khi đức Phật thành đạo, Tăng đoànbắt đầu được thành lập và theo như kinh sách tiếng Hán, áo cà sa còn gọi là Cát triệt y hay Điền tướng y, là những mảnh vải vụn nhặt được ở bãi tha ma, tượng trưng cho những gì tầm thường nhất và cũng để nhắc nhở người xuất gia cần có một đời sống khiêm tốn và đơn sơ nhất. 
 Các sư tăng Phật giáo Nguyên thuỷ cho đến nay vẫn mặc bộ cà sa do đức Phật chế ra

Người xuất gia khoác lên người áo cà sa để giúp họ tự giữ giới, nhắc nhở họ không được tà dâm, sát sinh, trộm cắp, không sân si, bám níu. Chiếc áo ấy đem đến sự an lạc cho họ, giúp họ phát lộ lòng từ bi, làm gia tăng trong tâm thức họ sự can đảm, tinh tấn, sức mạnh và trí tuệ.

Mặt khác áo cà sa còn gây nhiều sự chú ý của giới nghệ thuật, đã đi vào văn học dân gian, in đậm vào văn hoá và tư tưởng con người. Người xuất gia mặc áo này trông trang nghiêm và dễ mến, kể cả nếp nhăn hoặc nếp rũ trên cà sa.

“Những ai đã Giác ngộ đều tôn kính chiếc áo cà sa, tin tưởng nơi chiếc áo đó. Họ xem đó là chiếc áo của giải thoát, một cánh đồng của phúc hạnh, một mảnh áo vô tướng, mảnh áo của Như Lai, mảnh áo của sự Giác Ngộ hoàn toàn, hoàn hảo và không có gì so sánh được” - Đạo Nguyện, đại thiền sư người Nhật nhấn mạnh.

Trong kinh Pháp Hoa, áo cà sa còn là biểu tượng của hạnh khiêm cung, nhu hòa, nhẫn nhục và trong Phật giáo những biểu tượng ấy có liên hệ mật thiết với tinh thần bình đẳng, tin chắc rằng mọi chúng sinh đều có Phật tính và khả năng thành Phật. Đó là tâm từ, là hạnh thành Phật.

Ngày nay, mặc dù tùy theo truyền thống của từng học phái, địa phương, phong tục, khí hậu… mà chiếc áo cà sa cũng biến dạng đi, từ cách may cho đền màu sắc nhưng những biến đổi đó vẫn luôn luôn giữ được truyền thống và phong cách hàng ngàn năm của Phật giáo. Tất cả đều không đi ra ngoài đạo pháp.

Bình bát là bảo vật truyền thừa của chư Phật

Trong kinh Phật bổn hạnh có nói: Khi đức Phật còn tại thế, có hai thương gia là Đế Ly Phú Bà và Bạt Ly Ca đều ở phía bắc Ấn Độ. Hai vị này, một hôm đem sữa cúng dường đức Phật nhưng đức Phật không có đồ đựng.
 Bình bát - bảo vật truyền thừa của chư Phật
Lúc bấy giờ có bốn vị thiên vương đem bốn cái bát bằng vàng đến dâng cúng đức Phật để đựng sữa, Ngài không nhận. Bốn vị Thiên Vương ấy lại trở về đem bốn cái bát khác bằng những thứ quý: ngọc, ngà, xa cừ... để dâng cúng đức Phật, Ngài cũng không nhận. Sau cùng bốn vị ấy đem dâng cúng bốn cái bình bát khác bằng đá, đức Phật rất hoan hỷ.

Theo tiếng Phạn thì bình bát gọi là Bát Đa La (người Trung Quốc dịch là Ứng lượng khí) nghĩa là đồ dùng để chứa đựng các thực phẩm chỉ đủ vừa sức ăn cho một người.

Bình bát chỉ được làm bằng đá, bằng sành, bằng đất sét nung thật chín rồi tráng men bên trong cho khỏi thấm nước, chứ không được làm bằng vàng bạc hay tất cả những kim khí quý... Nếu dùng bằng kim khí quý thì không đúng phẩm hạnh của bậc xuất gia. Và thông thường túi đựng bình bát bằng vải, cùng màu với màu y.

Ở các nước Tiểu thừa Phật giáo, chư Tăng thường đi khất thực nên thường dùng bình bát. Các nước theo Đại thừa Phật giáo thì không đi khất thực nên chỉ dùng bình bát trong ba tháng an cư kiết hạ, có nơi còn ba tháng kiết đông nữa.

Đồng thời, thỉnh thoảng có quý thí chủ phát tâm cúng dường trai tăng (thực phẩm và những vật dụng cần thiết) thì cũng dùng bình bát để cúng Phật trước khi thọ trai. Sau khi các vị đã đắc giới, chư giới sư trao truyền bình bát và bắt đầu trì bình (ôm bát đi khất thực) từ đó.

Mỗi lần đi khất thực, tay nâng bình bát đang còn trống không, đức Phật dạy đệ tử của Ngài không phiền muộn, không lo lắng mà phải an tịnh và nhận đồ cúng dường với tâm bình đẳng.

“Pháp phục và bình bát là tài sản thiêng liêng, quý báu của người hành Đạo. Vì nó là phương tiện giúp cho Tỳ Kheo an ổn trong sinh hoạt hằng ngày và phòng hộ thân tránh tham đắm dục lạc. Khi còn tại thế đức Phật vẫn luôn nhắc nhở, khuyến khích các Tỳ Kheo hãy thường giữ bên mình 3 y và 1 bình bát. Đó là Pháp phục truyền thống của ba đời chư Phật” - Theo giáo lý của đức Phật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/4/2018.

Sunday, April 1, 2018

Người xuất gia được phép cạo tóc vào ngày nào trong tháng?

)

Là biểu tướng đầu tròn, từ bỏ mọi phiền não cho nên không được để tóc dài, vì đó là tướng của phá giới song không được luôn cạo. Vậy trong một tháng người xuất gia được phép cạo tóc (thế phát)  vào thời gian nào?

Xuất gia, tiếng Phạn là Pravrajya, là để chỉ người theo Phật giáo, từ bỏ gia đình, sống đời phạm hạnh, không màng danh lợi hay dục lạc, chỉ mong cầu giải thoát; họ ở trong rừng hay những nơi thanh tịnh, xa rời đời sống thế tục. Ở Ấn Độ thời cổ đại, cũng có những đạo sĩ Bà – la - môn tu theo hạnh xuất gia, tuy có hình thức tương tự , nhưng chính Đức Thích Ca Mâu Ni đã mang lại cho đời sống của người xuất gia theo đạo Phật một ý nghĩa đầy đủ và thực tiễn hơn. 
 Ảnh minh họa
Kinh Tăng Nhứt A-hàm có dạy: "Người xuống tóc xuất gia học đạo thì phải có niềm tin kiên cố, nếu không đủ ý nghĩa như tên gọi này thì chớ nên xưng là đệ tử của Đức Thích Ca". Là biểu tướng đầu tròn, từ bỏ mọi phiền não cho nên không được để tóc dài, vì đó là tướng của phá giới song không được luôn cạo. Vậy trong một tháng người xuất gia được phép cạo tóc (thế phát)  vào thời gian nào?

Một tháng nên cạo hai lần, vào các ngày: 4, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 14, 16, 19, 22, 23, 24, 25, 26 và 29 âm lịch. Khi cạo niệm bài kệ:

Thế trừ tu phát
Đương nguyện chúng sinh
Vĩnh li phiền não
Căn kích tịch diệt
Án tất điện đô, mạn đa la, bạt đà da,sa bà ha (3 lần)

Dịch nghĩa:

Cạo bỏ râu tóc
Nên nguyện chúng sinh
Dứt trừ phiền não
Hết thảy thanh tịnh
Án tất điện đô, mạn đa la, bạt đà da, sa bà ha (3 lần)

The Buddha taught how to lie dutifully by the cultivator.

 Lying in the right place is also a way of cultivating. The posture reflects the mood and profound effects on the calmness of the body and mind of the lying.

At the time of the Exalted One in Kosambi, at Ghosita Gardens, he taught the bhikkhus:
O bhikkhus, there are four ways to lie. how is four?
How the lying of the demon, the way of life of the desire, the lying of the lion and the way of the Tathagata.
What is the way of lying of demons? O bhikkhus, the majority of the ghosts lie on their backs.
O bhikkhus, what is the way of life of the aspirant? Most lovers of life are on the left.
What is the lie of the lion? The bhikkhus, the lions, the king of mammals lying on the right side of the hips, their feet on each other.
And this the brethren, how is the lie of the Tathagata? Here, bhikkhus, bhikkhus, etc., attain and abide the Four Meditations, this is the way of the Tathagata.
O bhikkhus, there are four ways to lie.

phat_day_cach_nam_dung_oai_nghi_cua_nguoi_tu_2_2.jpg
ANSWER:
Lying is the ideal posture to rest, relax, sleep indispensable in daily life. Normally, people are habits, like sleeping or lying around with many different positions. Not everyone is aware that their way of lying has a lot to do with physical and mental health.
Actually, lying dutifully is also a way of cultivating. The posture reflects the mood and profound effects on the calmness of the body and mind of the lying. According to the wisdom of the Exalted, those who prefer to lie on the back express the desire, suffering torment. Therefore, lying on the back hard to aspire craving, hope than other postures. In addition, lying on the back will create a sense of pride, especially when sleeping can lose the posture.
The posture on the left reflects the mood of the majority of people who enjoy life. On the other hand, lying on the left side also affects the circulatory system. Thus, practitioners do not usually follow these two positions.
Lying on the right side, legs lined up like a lion is a posture full of posture, one of the virtues of cultivators. This is the position lying sand wall, creating peace, security for the body and especially the mind always reach the awakening.
Ideally, lying with the mind in the calm of the four meditations, this is the way of the Tathagata. To achieve this lie, it is best to practice the body with the lying lion's wall.Cultivation needs to be carried out continuously in four postures, standing, lying, sitting. Therefore, choosing the right way to calm the body is one of the important content of each Buddhist practice.END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.2/4/2018.

Phật dạy cách nằm đúng oai nghi của người tu.

 Nằm đúng oai nghi cũng là một cách tu. Tư thế nằm phản ánh tâm trạng và ảnh hưởng sâu sắc đến sự an tịnh của thân tâm của người nằm.

Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita, dạy các Tỷ kheo:
Này các Tỷ kheo, có bốn cách nằm này. Thế nào là bốn?
Cách nằm của ngạ quỷ, cách nằm của kẻ hưởng thọ dục vọng, cách nằm của sư tử và cách nằm của Như Lai.
Thế nào là cách nằm của ngạ quỷ? Này các Tỷ kheo, phần lớn các ngạ quỷ nằm ngửa.
Này các Tỷ kheo, thế nào là cách nằm của người hưởng thọ các dục vọng? Phần lớn các người hưởng thọ các dục vọng nằm nghiêng phía bên trái.
Thế nào là cách nằm của sư tử? Này các Tỷ kheo, sư tử, vua các loài thú nằm nghiêng về phía hông bên phải, hai chân gác lên nhau.
Và này các Tỷ kheo, thế nào là cách nằm của Như Lai? Ở đây, này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo ly dục… chứng đạt và an trú Tứ thiền, đây là cách nằm của Như Lai.
Này các Tỷ kheo, có bốn cách nằm này.

phat_day_cach_nam_dung_oai_nghi_cua_nguoi_tu_2_2.jpg
LỜI BÀN:
Nằm là tư thế lý tưởng để nghĩ ngơi, thư giản, ngủ nghỉ vốn không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Bình thường thì người ta nằm theo thói quen, thích sao thì nằm vậy hoặc nằm xoay trở với nhiều tư thế khác nhau. Không phải ai cũng ý thức được rằng cách nằm của mình có liên hệ rất nhiều đến sự an ổn thân tâm và sức khỏe.
Thực ra, nằm đúng oai nghi cũng là một cách tu. Tư thế nằm phản ánh tâm trạng và ảnh hưởng sâu sắc đến sự an tịnh của thân tâm của người nằm. Theo tuệ giác của Thế Tôn, những người nào thích nằm ngửa thể hiện nỗi khát khao, bị khổ đau dằn vặt. Vì thế, nằm ngửa khó nhiếp phục tâm khát ái, vọng tưởng hơn các tư thế khác. Ngoài ra, nằm ngửa sẽ tạo ra sự hớ hênh, nhất là lúc ngủ say có thể đánh mất oai nghi.
Tư thế nằm nghiêng bên trái phản ánh tâm trạng của phần lớn những người ưa thích, thọ hưởng dục vọng. Mặt khác, nằm nghiêng bên trái cũng ảnh hưởng không tốt đến hệ tuần hoàn. Vì thế, người tu thường không nằm theo hai tư thế này.
Nằm nghiêng bên phải, hai chân gác lên nhau như sư tử là tư thế hội đủ oai nghi, một trong những tế hạnh của người tu. Đây là tư thế nằm cát tường, tạo ra sự yên lành, an ổn cho thân thể và nhất là tâm luôn đạt được sự giác tỉnh.
Lý tưởng nhất là nằm với tâm an trú trong an tịnh của Tứ thiền, đây là cách nằm của Như Lai. Để đạt được cách nằm này, tốt nhất là rèn luyện thân tâm với tư thế nằm cát tường của sư tử. Tu tập cần phải được thực hiện liên tục trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi. Do vậy, chọn cách nằm đúng pháp để an tịnh thân tâm là một trong những nội dung tu tập quan trọng của mỗi người con Phật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/4/2018.
MÔI TRƯỜNG TU HỌC CỦA NGƯỜI XUẤT GIA.


Sư Trung Thiện tại ngôi rừng Thái Lan (Ảnh: Tấn Phát)

Trong quá trình cần cầu “vô thượng an ổn khỏi các khổ ách”- Niết-bàn, người xuất gia thường khi cần phải xét đến việc tìm kiếm một nơi chốn tu học tương đối thích hợp và thuận lợi cho mục tiêutiến bộ tâm linh của mình. Kinh Thánh cầu(Ariyapariyesanasuttamô tả rằng ngay sau khichia tay năm người bạn đồng tu khổ hạnh, Đức Gotama tuần tự du hành đến tụ lạc Uruvela ở Gayà. Tại đây, Ngài thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sángchảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Ngài tự nhủ: “Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn”1. Và Ngài quyết định dừng lại ở đây để tinh tấn tu hành. Về sau, vùng đất này trở thành Thánh địa của đạo Phật với tên gọi Boddhgayà, một địa danh nổi tiếng đánh dấu chỗ Đức Phật quyết định dừng chân tu tập và chứng đạo.
Thông tin trên cho hay Đức Phật đã tìm thấy một nơi chốn được xem là “lý tưởng” cho sự tu tập của mình. Đó là một môi trường tương đối hội đủ các điều kiện thuận lợi đưa đến sự thành công của Ngài về phương diện tu tiến tâm linh. Tại đây, có làng mạc bao bọc chung quanh rất tiện cho Ngài đi khất thựcmỗi ngày, lại có cảnh quan thiên nhiên thích hợp cho việc tu thiền, hai yếu tố ngoại duyên được xem là căn bản và cần thiết cho sự thực hành đạo giải thoát. Cố nhiên, Ngài đã lưu trú tại đó để tinh tấn tu thiềntrong thời gian 49 ngày và sau cùng thì chứng đắc đạo quả giác ngộ.
Xuất phát từ kinh nghiệm tu chứng của bản thânĐức Phật mong sao cho các học trò mình có được một môi trường thuận lợi cho sự nghiệp tu học đạo lý giác ngộ. Theo kinh nghiệm của Ngài thì một môi trường tu học thuận lợi không chỉ là sự thoải mái tiện ích về đời sống vật chất mà quan trọng hơn là phải đáp ứng yêu cầu tiến triển về đạo đức và giải thoát tâm linh cho con người trong khi sinh hoạt ở đó. Vì vậy, bên cạnh việc nỗ lực kiến tạo các môi trường tu học có các điều kiện sinh hoạt thuận tiện như thiết lập các tinh xá có khoảng cách không xa các thị trấn hay thôn làng, Đức Phật quan tâm rất nhiều đến công tác giảng dạy và xây dựng chương trình tu học cho các Tỷ-kheo ở trong các cơ sở như vậy. Phật chủ trương kiến tạo môi trường thực nghiệm tâm linh cho nhân thế bằng cách khai sáng giới đức, tâm đức, tuệ đức ở trong lòng mọi ngườinhấn mạnh rằng ở đâu có giới-định-tuệ chói sáng thì ở đó có hiểu biết, có tình thương, có tự dogiải thoát, có hạnh phúc và an lạc. Ngài đánh giá cao một môi trường tu học có đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến, nghĩa là nơi nào có các Thánh giả giác ngộlưu trú hành đạo2; vì ở đấy những ai chưa đầy đủ giới hạnh sẽ được học tập đầy đủ giới hạnh; chưa đầy đủ thiền định sẽ được học tập đầy đủ thiền định; chưa đầy đủ trí tuệ sẽ được học tập đầy đủ trí tuệ; chưa đầy đủ giải thoát sẽ được học tập đầy đủ giải thoát; chưa đầy đủ giải thoát tri kiến sẽ được học tập đầy đủ giải thoát tri kiến3. Do tính chất hạn chế nhất định của các pháp ở thế gian (người, vật, môi trường…), Ngài cho phép các Tỷ-kheo tự tìm kiếm nơi cư trú tu học thích hợp của riêng mình nhưng nhắc nhở họ phải biết xem xét cân nhắc cho thật kỹ các điều kiện ở trong đó để có sự lựa chọn thích đáng. Ngài nêu ra bốn môi trường tu học có các điều kiện khác nhau:
1. Một môi trường vừa thiếu thốn về vật chất vừa không thuận lợi cho sự tu tiến tâm linh.
2. Một môi trường đầy đủ về vật chất nhưng không thuận lợi cho sự tu tiến tâm linh.
3. Một môi trường thiếu thốn về vật chất nhưng thuận lợi cho sự tu tiến tâm linh.
4. Một môi trường vừa đầy đủ về vật chất vừa thuận lợi cho sự tu tiến tâm linh.
Người xuất gia nên suy xét cân nhắc như thế nào về bốn môi trường vừa nêu để có sự quyết định xác đáng về nơi chốn tu học của mình? Sau đây là các phân tích mang tính gợi ý của Đức Phật:
“Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống tại một khu rừng nào. Tỷ-kheo sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú không được an trú, tâm tư chưa được định tĩnh không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ không được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn, khỏi các ách phược chưa được chứng đạt không được chứng đạt, và những vật dụng cần thiết cho đời sống mà một người xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách khó khăn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy nghĩ: “Ta sống tại khu rừng này; khi ta sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú không được an trú, tâm tư chưa được định tĩnh không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ không được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn, khỏi các ách phược chưa được chứng đạt không được chứng đạt, và những vật dụng cần thiết cho đời sống mà một vị xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụngnày kiếm được một cách khó khăn”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải từ bỏ ngôi rừng ấy, không được ở lại, ngay lúc ban ngày hay lúc ban đêm.

Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống tại một khu rừng nào. Tỷ-kheo sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú không được an trú, tâm tư chưa được định tĩnh không được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toànđoạn trừ không được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn, khỏi các ách phược chưa được chứng đạt không được chứng đạt, và những vật dụng cần thiết cho đời sống mà một người xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng này kiếm được một cách không khó khăn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy nghĩ như sau: “Ta sống tại khu rừng này. Khi ta sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú không được an trú… những vật dụng này kiếm được một cách không khó khăn. Nhưng không phải vì y phục mà ta xuất giatừ bỏ gia đình sống không gia đình, không phải vì đồ ăn khất thực… không phải vì sàng tọa… không phải vì dược phẩm trị bệnh mà ta xuất giatừ bỏ gia đìnhsống không gia đình. Nhưng trong khi ta ở tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú không được an trú… vô thượng an ổn, khỏi các ách phược không được chứng đạt”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy chỉ với suy tính này, phải từ bỏ ngôi rừng ấy, không được ở lại.
Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống tại một khu rừng nào. Tỷ-kheo sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú được an trú, tâm tư chưa được định tĩnh được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn, khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt, nhưng những vật dụng cần thiếtcho đời sống một người xuất gia cần phải sắm đủ, như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật này kiếm được một cách khó khăn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy nghĩ như sau: “Ta sống tại khu rừng này. Khi ta sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú được an trú… vô thượng an ổn, khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt… những vật dụng này kiếm được một cách khó khăn. Nhưng không phải vì y phục mà ta xuất giatừ bỏ gia đìnhsống không gia đình, không phải vì món ăn khất thực… không phải vì sàng tọa… không phải vì dược phẩm trị bệnh mà ta xuất giatừ bỏ gia đìnhsống không gia đình. Nhưng trong khi ta ở tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú được an trú… vô thượng an ổn, khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy chỉ với suy tính này, phải ở lại khu rừng ấy, không được bỏ đi.
Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống tại một khu rừng nào. Tỷ-kheo sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú được an trú, tâm chưa được định tĩnh được định tĩnh, các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ được hoàn toàn đoạn trừ, vô thượng an ổn, khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt, và những vật dụng cần thiết… kiếm được một cách không khó khăn. Chư Tỷ- kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy nghĩ như sau: “Ta sống tại khu rừng này. Khi ta sống tại khu rừng này, các niệm chưa được an trú được an trú… vô thượng an ổn, khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt, và những vật dụng này cần thiết… kiếm được một cách không khó khăn”. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải ở lại khu rừng cho đến trọn đời, không được rời bỏ”.4
Nhìn chung, các phân tích ở trên cho thấy người xuất gia có quyền chọn cho mình một nơi chốn tu họcnhưng cần phải phân biệt rõ loại môi trường nào không thích hợp với lý tưởng tu học của người xuất giavà loại môi trường nào là thật sự cần thiết cho mục tiêu tu học của mình. Hai môi trường đầu hẳn nhiên là không thích hợp cho người xuất gia lưu trú tu học, vì chúng không giúp cho người xuất gia thăng tiến về tâm đức và tuệ đức (các niệm chưa được an trú không được an trú, tâm tư chưa được định tĩnh không được định tĩnh), không giúp cho người xuất gia đoạn trừ lậu hoặcchứng đắc Niết-bàn (vô thượngan ổn khỏi các khổ ách). Chỉ có hai môi trường sau mới thật sự thích hợp và cần thiết cho người xuất gialưu trú, vì chúng đáp ứng mục tiêu tu học của người xuất gia, nghĩa là có khả năng giúp cho người xuất gia phát triển chánh niệmchánh định, hướng đến đoạn trừ lậu hoặcchứng đắc Niết-bàn, nếu sống tu học ở đó.

Điều đáng chú ý là trong việc lựa chọn môi trường hay nơi chốn tu học, người xuất gia phải luôn luôn ý thức rõ về lý tưởng tu học của mình và phải đặt mục tiêu giải thoát lên hàng đầu. Lẽ tất nhiên, người xuất gia không phải vì mục đích của cải vật chất mà xuất gia học đạo; do đó, một môi trường tu học đầy đủ hoặc thiếu thốn về vật chất không phải là điều đáng bận tâm nhiều đối với vị ấy. Đức Phật cũng từng khuyên nhắc các Tỷ-kheo phải thừa tự Pháp của Ngài, chớ có thừa tự tài vật5. Chính vì vậy mà yếu tốđáng cân nhắc nhiều nhất là xem môi trường đó có thực sự giúp cho người xuất gia thăng tiến về giới đức, tâm đức, tuệ đức, giải thoát và giải thoát tri kiến đức hay không. Nếu một môi trường mà hội đủ cả hai yếu tố, nghĩa là vừa thoải mái về mặt vật chất vừa có khả năng giúp cho người xuất gia phát triển về giới đức, tâm đức, tuệ đức, giải thoát và giải thoát tri kiến đức, thì đó là môi trường tối ưu mà theo lời Phật thì người xuất gia phải sống ở đó mà tu học cho đến trọn đời, không được bỏ đi, dầu có bị xua đuổi.6 Giả sử một môi trường có khả năng giúp cho người xuất gia tiến triển về giới đức, tâm đức, tuệ đức, giải thoát và giải thoát tri kiến đức nhưng lại khó khăn thiếu thốn về vật chất thì người xuất gia cần phải kham nhẫn ở lại đó mà tu học, không nên rời bỏ; vì mục đích tu học của người xuất gia là tăng trưởng giới đức, tâm đức, tuệ đức, thực chứng giải thoát và giải thoát tri kiến đức, chứ không phải vì lý do sinh sống hàng ngày.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/4/2018.